OLD TOYS, NEW JOY!

OLD TOYS, NEW JOY! ĐỒ CHƠI CŨ, NIỀM VUI MỚI!

Trưa nay, mình cùng anh Khang thay mặt quỹ Yêu Thương đến thăm 3 đứa trẻ (là những đứa bị bệnh tim rất nặng và đặc biệt nghèo) đang điều trị tại BVĐHYD, khoa Phẫu thuật tim mạch, theo lời kêu gọi khẩn cấp từ bác sĩ.

Khi mình tới, bé gái Hải Bình chừng 5 tuổi, nét mặt lộ vẻ đau đớn với kim truyền đang gắn ở chân, xung quanh là dây nhợ và không khí đầy lo lắng buồn bã của người thân. Thấy mọi người và bác sĩ đến, bé gái sợ hãi chực muốn khóc, nép mình yếu ớt vào mẹ. Thương quá đỗi! Nguyên vội chạy xuống lấy những con thú bông có sẵn trong xe (chỉ là vật trang trí) rồi quay lại tặng con.  Được tặng “quà”, mắt con sáng lên, tươi tỉnh, tỏ ra rất thích thú và nhanh nhảu khoanh tay cám ơn cô rất ngoan.

Chỉ là vài con thú bông nhỏ, nhưng khi nhận, mắt trẻ đã ánh lên niềm vui không thể tả. Bởi với hầu hết những đứa trẻ ở miền quê nghèo, đồ chơi luôn là thứ quý giá.

Một món đồ chơi bất ngờ có thể giúp trẻ vui hơn phần nào trong thời gian nằm viện.

Vì thế, mình nảy ra ý định là Quỹ YT từ nay sẽ quyên góp thêm đồ chơi cũ. Có thể là thú bông cũ, xe hơi cũ, những cuốn truyện tranh cũ (như truyện mẹ kể bé nghe trước giờ đi ngủ). Hoặc bất cứ thứ gì mang đến niềm vui cho trẻ mà anh chị em có thể donate cho quỹ Yêu Thương! Tất nhiên là cũ nhưng vẫn còn dùng được, ví dụ như xe hơi thì phải còn đủ 4 bánh, không bị sứt mẻ :)

(Hoặc là quần áo cũ. Cũ nhưng còn đẹp, không rách. Thường đồ con nít mặc chưa kịp cũ thì đã chật…)

Mình hy vọng chương trình này sẽ duy trì cùng với quỹ Yêu Thương và được thực hiện trong những dịp đặc biệt như Tết Thiếu nhi, Trung Thu, Giáng Sinh, Tết Âm Lịch… Hoặc bất cứ khi nào mình đến thăm trẻ em đang nằm viện, quỹ sẽ có thêm “quà” là những món đồ chơi. It’s “OLD TOYS, NEW JOY”!

Còn chờ gì nữa, chỉ còn hơn tuần nữa là đến ngày Giáng sinh! Mọi người cho thêm ý kiến và mình thử bắt đầu nhe (+ kêu gọi teamwork :))

P.s Không có đồ chơi cũ, bạn có thể tặng mới! :-)

1418646601-picsay

Sáng nay bs Khôi nhắn, nhờ quỹ mình giúp gấp t.h đáng thương, là một trong ba đứa mà bs Khôi nhờ cuối tuần rồi:

Tống Văn Phụng, sinh năm 1998. “Cháu bị bệnh tim rất nặng, đã thay van động mạch chủ, thay van hai lá, sửa van ba lá, vẫn chưa xuất viện. Người cha mất sức lao động. Người mẹ là lao động chính. Nhà rất nghèo đến độ phải nhờ người nuôi bệnh cùng phòng giúp tiền ăn. Tranh thủ lúc con tạm ổn về nhà làm thuê kiếm tiền nuôi ăn cho con. Nhưng bà bị tai biến lao động và đã mất hôm qua”.

Nghe tin, Ng và anh Khang trưa nay đã đến bệnh viện thăm Phụng. Điều đáng thương là em chưa biết mẹ mất (mọi người đang giấu tin dữ vì sợ em bị shock khi sức khỏe em còn yếu). Nghe bác sĩ kể lại, ngay khi nhận được tiền, em nói người nhà mang về cho mẹ :(

Ngoài Phụng, trưa nay còn giúp 2 em bé khác:

  • Bé gái Phạm Hải Bình sn 2009, tức đã hơn 5 tuổi mà bé tí teo, yếu ớt. Thấy mọi người và bác sĩ tới thì chực khóc. Nhưng khi được cho đồ chơi (thú bông) thì tươi tỉnh ra mặt, vội khoanh tay cảm ơn, trông rất ngoan và đáng yêu.
  • Nguyễn Tuấn Tú (sn 2013) đang nằm hồi sức (cũng là ca rất nặng). Chỉ gặp và trao tiền cho người nhà.

Quỹ giúp bé Phụng 5M, bé Bình 3M, bé Tuấn Tú 3M phụ tiền ăn và đi lại.

Ngoài ra, ngày 1.12.2014, giúp bé Mai Thị Thảo Vy, 5 tuổi bị ung thư máu ở Hóc Môn, cha mẹ rất nghèo đang ở nhà thuê nên không có tiền điều trị. Bé đang học ở trường mầm non Bà Điểm.

Bé Hải Bình nhận quàBé Hải Bình

Thăm hỏi và giúp bé Phụng

Trao tiền cho mẹ bé Hải Bình Trao tiền cho mẹ bé Tuấn Tú

????

(Bài trên tạp chí Người Đẹp tháng 12, chuyên san báo Tiền Phong, số 366)

Có một người phụ nữ Việt Nam bình dị, là người vợ, người mẹ bên dòng Cửu Long hiền hòa chở nặng phù sa. Nhưng thời cuộc đã hun đúc con người ấy trở nên mạnh mẽ. “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, người phụ nữ ấy đã làm bạt vía quân thù. Bà là vị Nữ tướng huyền thoại – Nguyễn Thị Định.

Nợ nước, thù nhà

Một ngày mùa xuân năm 1920, giữa vùng nông thôn nghèo Nam Bộ, có một ca sinh khó. Người chồng đã động viên, thuyết phục bà mụ kiên trì không bỏ cuộc. Rồi đứa bé gái cất tiếng khóc chào đời khỏe mạnh bên bờ sông xã Lương Hòa (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Bé gái đó là Nguyễn Thị Định, cô út trong mười anh chị em. Gia đình Út Định làm nông, nghèo khó trong bối cảnh xã hội thực dân phong kiến ngột ngạt, khắc nghiệt. Vì nhiều khó khăn, cô không được đến trường. Thương em gái thiệt thòi, người anh thứ ba (Ba Chẩn) đã dạy chữ cho em. Hơn hết, anh Ba Chẩn đã gieo vào lòng Út Định tình yêu quê hương đang lầm than và nêu tấm gương kiên trung của người làm cách mạng.

Út Định lớn lên như thế bên hàng dừa soi bóng nước vùng Nam Bộ nồng nàn phù sa, trong tình yêu thương dìu dắt của người anh và ngập tràn những ước mơ cao đẹp từ những vần thơ Lục Vân Tiên. Cô hào hứng dõi theo anh Ba Chẩn tham gia Việt Minh, làm cách mạng. Rồi bất lực chứng kiến anh bị địch bắt, bị đánh đập và tra tấn ở nhà giam. Nước mắt cô chảy ngược, tinh thần cách mạng nảy nở và hun đúc tiếp bước anh mình.

Năm 16 tuổi, Út Định xinh đẹp có tiếng, da trắng, môi đỏ, tóc xoăn. Thời ấy, con gái ở tuổi này đã lo chuyện chồng con. Nhiều gia đình giàu có đánh tiếng dạm hỏi nhưng Út Định không quan tâm. Những năm đó, phong trào dân chủ cách mạng lên cao. Út Định say sưa theo anh Chẩn. Tham gia cùng anh và các bạn của anh diễn thuyết, rải truyền đơn, làm giao liên, rồi lo cơm nước hậu cần cho các anh, tham gia các hội tương tế ái hữu…

Tình yêu của cô với một người đồng chí nảy nở thật đẹp giữa phong trào cách mạng. Trong hồi ký “Không còn đường nào khác”, câu chuyện ở vườn quýt gây được nhiều xúc động về tình yêu trong sáng của cô gái trẻ Út Định và người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Văn Bích.

Hôm đó, Út Định được nhắn ra vườn quýt. Lòng cô nôn nao, nghĩ rằng các anh giao nhiệm vụ rải truyền đơn, hoặc chấp thuận mình thoát ly đi làm cách mạng. Đến gặp Út Định lại là anh Bích. Anh muốn cầu hôn cô. Anh hỏi: “Người chồng như thế nào thì cô mới  ưng?”. “Chồng em phải làm cách mạng, phải tốt với ba má em và yêu thương em suốt đời”. Mắt anh Bích sáng lên, anh hỏi: “Lấy chồng cách mạng không chỉ chồng cô mà bản thân cô và gia đình có thể bị tù, bị giết chết, cô không sợ sao?”. “Không. Em không sợ”. “Nhưng nếu người ấy bị bắt, bị đi tù 9, 10 năm, Út Định có chờ được không?”.Em sẽ chờ”.

Lời hứa ấy trở thành định mệnh kết chặt hai con người với nhau. Họ cưới nhau không lâu sau đó và sống bên nhau những ngày trăng mật ngắn ngủi. Anh Bích trở lại hoạt động, cô ở lại bám cơ sở. Sau này, cô mới biết anh là Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, hoạt động công khai. Đôi vợ chồng trẻ cùng chung niềm tin và chí hướng đã sống những ngày thật hạnh phúc. Đứa con trai ra đời, thêm hạnh phúc vô bờ.

Mới sinh con 3 ngày, mật thám đến nhà bắt anh đi. Giông tố ập đến quá bất ngờ khiến cô Út Định gần như ngã quỵ. Anh bị kết án kết án 5 năm tù và 5 năm đày biệt xứ. Cô chỉ được bồng con thăm anh một lần và anh cũng vừa kịp đặt tên cho con là On.  Thương chồng và nhớ lời hứa ở vườn quýt đã tiếp thêm sức chịu đựng cho Út Định. Cô âm thầm chuẩn bị để thoát ly. Hai ngày trước ngày hẹn thoát ly, Út Định bị mật thám bắt và tuyên án đày đi Bà Rá (Sông Bé). Bé On chỉ mới 7 tháng tuổi.

Nhà tù Bà Rá khét tiếng tàn bạo, như địa ngục trần gian. Những đòn roi, tra tấn nhục hình không đánh gục được ý chí người phụ nữ kiên trung. Trái tim Út Định chỉ mòn mỏi vì nỗi đau sâu kín: thương chồng, nhớ con. Cô biết dấn thân vào con đường cách mạng là chấp nhận thương đau, tù đày và cái chết. Nhưng ánh mắt con thơ hôm chia xa luôn làm lòng cô đau quặn thắt, nước mắt chảy tràn. Trong khi tin tức anh Bích ngoài Côn Đảo vẫn biền biệt.

Năm 1943, Nguyễn Thị Định được bọn Pháp thả khỏi trại Bà Rá, đưa về quản thúc tại địa phương. Ba tháng sau ngày trở về, vết thương những ngày bị đọa đày trong tù chưa lành hẳn thì vết thương lớn hơn đã đánh cô ngã quỵ: anh Bích đã hy sinh ngoài Côn Đảo. Không còn nước mắt để khóc, cô thu mình vào vườn quýt – chốn hẹn hò cùng anh năm xưa, ngồi khóc một mình.

Sau những ngày cùng cực, nhớ đến chồng và bao đồng chí còn đang bị tù tội hay đã hy sinh, cô thấy mình phải đứng lên và hành động như một chiến sĩ cách mạng. Cần phải rửa nợ nước, trả thù nhà.

Năm 1944, phong trào Việt Minh nổi lên mạnh mẽ, cô bắt được liên lạc với tổ chức và lao vào công tác. Trong Cách Mạng Tháng Tám, người góa phụ trẻ ấy đã cầm cờ dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tay dao, tay gậy, băng-rôn, biểu ngữ, khí thế rầm rộ tiến chiếm thị xã Bến Tre.

Vượt biển ra Bắc

Sau thắng lợi Cách Mạng Tháng Tám, Việt Nam giành độc lập, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời. Út Định được tổ chức giữ lại công tác ở cơ quan Phụ nữ tỉnh, làm Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh Bến Tre. Thời gian này, tình hình chính trị xã hội trong nước rất phức tạp. Thực dân Pháp âm mưu xâm lược nước ta lần nữa. Đầu tháng 2 năm 1946, Pháp tái đánh chiếm Bến Tre. Địch trang bị cả xe tăng, máy bay, pháo binh, lục quân hiện đại, trong khi ta chỉ có vũ khí thô sơ. Sau Hiệp định Sơ bộ 6/3 ký với Pháp, hoạt động cách mạng tại miền Nam càng gặp muôn vàn khó khăn. Thời cuộc đòi hỏi thông tin tình hình miền Nam ra Trung Ương, cũng như cần sự chỉ đạo nhất quán và chi viện khí tài từ Trung Ương vào Nam. Nguyễn Thị Định được Khu ủy Khu 8 và Tỉnh ủy chọn giao nhiệm vụ ra Bắc báo cáo tình hình và xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Năm ấy, chị vừa tròn 26 tuổi, kiên cường và yêu nước mãnh liệt.

Nguyễn Thị Định cùng các đồng chí chọn cách vượt biển nhằm đảm bảo an toàn, nhưng cũng là cách gian khổ nhất. Đoàn ra Bắc năm ấy còn có Đoàn Văn Trường – Tư lệnh Khu 8, Ca Văn Thỉnh và bác sĩ Trần Hữu Nghiệp. Cuối tháng 3 năm 1946, chiếc thuyền buồm chèo tay bí mật xuất phát tại bến Cồn Lợi (xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú). Con thuyền nhỏ bé phải lênh đênh mãi ngoài khơi xa để tránh tàu địch. Trải qua bao sóng gió, cuối cùng cập bến Phú Yên là vùng tự do ở Nam Trung bộ. Từ đây, đoàn ra Hà Nội bằng xe lửa, vinh dự được gặp Bác Hồ.

Tại thủ đô Hà Nội, chị được cho bồi dưỡng lớp lý luận chính trị, quân sự. Kết thúc khóa học, chị vào Quảng Ngãi – trụ sở của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, nhận vũ khí, tiền và tài liệu của Trung Ương mang về cho Xứ ủy Nam Bộ. “Tôi mang một cây (súng) mà bị lộ thì cũng chết. Các anh cho tôi vài ngàn cây, tôi đi một chuyến cho đáng”.

Tháng 11 năm 1946, một chiếc thuyền buồm lớn cùng với hơn 12 tấn vũ khí, tài liệu sẵn sàng cho thuyền trưởng Nguyễn Thị Định chuyển về Nam từ bến Tuy Hòa, Phú Yên. Chuyến vượt biển ra Bắc đã gian nan, chuyến về còn cam go hơn bởi phải bảo vệ an toàn 12 tấn vũ khí. Con thuyền phải ra đến tận hải phận quốc tế, sau đó mới xuôi dần về Tây Nam bộ. Chuyến đi nhằm vào mùa mưa, giông bão liên tục. Mặt khác, thủy thủ đoàn phải vừa né tránh, vừa đối phó với tàu tuần tiễu của Pháp để cập bến Thạnh Phong an toàn giữa một đêm khuya mùa gió chướng năm 1947.

Con thuyền đầu tiên vượt biển thành công của Nguyễn Thị Định đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, chi viện sức mạnh chiến đấu và mang lại niềm tin tất thắng đối với chiến sĩ và đồng bào Nam bộ. Chuyến đi thành công của chị đã đánh dấu mốc lịch sử quan trọng đầy cảm hứng mở ra con đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại.

“Đội quân tóc dài” – làm nên Đồng Khởi!

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Genève được ký kết. Chị Định quyết định ở lại, không đi tập kết mà chỉ gửi mình On ra Bắc. Người mẹ tiễn con, tràn niềm tin và hy vọng, ngờ đâu đó là cuộc chia ly vĩnh viễn (ngày 4/5/1960, anh On mất ngoài Bắc vì bệnh).

Sau đó, hiệp định Genève bị địch vi phạm nghiêm trọng. Cán bộ kháng chiến cũ bị đặt ngoài vòng pháp luật. Nhiều chi bộ bị xóa trắng. Chị Định phải giả trang khi thì làm người chăn gà vịt tại nhà dân, khi thì làm thương nhân mua bán, làm người ở, thậm chí thành người tu hành. Bến Tre và nhiều địa phương khác ở Nam Bộ chịu sự đàn áp của chính quyền, sống trong cảnh ngột ngạt và khó thở cùng cực. Địch treo thưởng cho “cái đầu” của chị: “Thưởng 10.000 đồng cho ai bắt được Nguyễn Thị Định”.

Cuối năm 1959, Mỹ-Diệm xây khu trù mật ở Bến Tre và cho thực hiện luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam để khủng bố phong trào cách mạng. Tình hình đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng lực lượng tự vệ và tiến hành chuyển hướng đấu tranh của Cách mạng miền Nam.

Nguyễn Thị Định là người khởi xướng và lãnh đạo chủ chốt phong trào Đồng Khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre, lan ra toàn tỉnh, rồi nhân rộng khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Nổi bật giữa phong trào Đồng Khởi là từng đoàn phụ nữ trên mấy trăm chiếc xuồng kín mặt sông, chở quần áo, mùng màn, bồng con cái nối đuôi nhau ra thị trấn. Các xã khác cũng ùn ùn kéo theo, tràn ngập, hừng hực khí thế, như thác lũ tràn về. Lực lượng phụ nữ được tổ chức tỉ mỉ, bài bản thành đội ngũ, tiến hành cuộc đấu tranh trực diện với địch, đòi chấm dứt càn quét, bắn giết, đòi bồi thường nhân mạng. Cuộc đấu tranh thắng lợi rực rỡ khiến địch phải chùn tay trước sức mạnh lợi hại của lực lượng được lịch sử ghi nhận là “Đội quân tóc dài”.

“Quả là ở miền Nam Việt Nam đang tồn tại một đội quân kỳ lạ, không có súng ống, có mặt ở khắp nơi, thành thị cũng như thôn quê, một đội quân mà các bản tin của các hãng thông tấn hầu như không bao giờ nói đến, song lại đóng vai trò to lớn trong cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Nam chống xâm lược, ngay cả trước khi những người du kích đầu tiên cầm lấy vũ khí. Đó chính là “Đội quân tóc dài” tập hợp hàng triệu nữ chiến sĩ”.  Nữ nhà báo Pháp Madeline Rippo đã viết về “Đội quân tóc dài” như thế!

Phong trào Đồng Khởi chứng tỏ tài năng tổ chức lãnh đạo và cầm quân của Nguyễn Thị Định. Bà đã sáng tạo chiến thuật ba mũi giáp công “rất đẹp”: đấu tranh vũ trang kết hợp đấu tranh chính trị và binh vận. Phong trào Đồng Khởi đã đưa cách mạng miền Nam lên cao trào mới, chuyển từ phòng ngự sang chủ động trực chiến với địch. Lực lượng “Đội quân tóc dài” đóng vai trò quan trọng, xứng đáng và truyền cảm hứng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam.

“Sống làm tướng, chết thành thần”

Sau thắng lợi của phong trào Đồng Khởi, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhận định: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Năm 1965, bà được phong quân hàm Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam, và được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975.

Trước bà, chưa có người phụ nữ nào tham gia cách mạng, được phong hàm tướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi: “Phó tổng Tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta“.

Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã góp phần vào tầm nhìn lãnh đạo, chỉ huy toàn diện, thấu đáo hơn trong cuộc chiến tranh nhân dân. Bà thường không mặc quân phục, không mang quân hàm. Bà giản dị như người mẹ, người chị trong bộ bà ba đen, khăn rằn quàng cổ, nón lá, dép râu. Bà sẵn sàng cây kim, sợi chỉ vá áo cho bộ đội, viên thuốc, miếng đường cho chiến sĩ khi lên cơn sốt rét. Nơi nào có “chị Ba”, nơi đó cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ được cải thiện. Trong rừng sâu, bà đồng cam cộng khổ với chiến sĩ, sẵn sàng trên các mặt trận.

Nhà văn Nguyên Ngọc từng viết: “Có lẽ bà là người Việt Nam có nhiều bạn bè nhất trên thế giới, từ những người dân thường cho đến các nguyên thủ quốc gia nổi tiếng và thuộc nhiều chế độ chính trị khác nhau”.

Bà là một phụ nữ khiêm nhường mà uyên bác, giản dị mà sang trọng, đại diện cho một Việt Nam kiên định, tự tin. Bà mang bạn bè về cho dân tộc, là một trong những nhân tố quan trọng nhất dẫn đến thắng lợi kỳ lạ của Việt Nam trong thế kỷ 20.

Giáo sư sử học Christine Whate trường đại học Tổng hợp Hawaii Mỹ đã viết thư gửi bà Nguyễn Thị Định, trong đó có đoạn: “Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thăm bà – một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống cách mạng Việt Nam”.

Sau chiến tranh, đất nước thống nhất, bà giữ nhiều trọng trách mới góp phần thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước: Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Nhưng với nhân dân, bà gần gũi hơn với tên gọi trìu mến: “Dì Ba Định”.

Ngày 26.8.1992, bà vĩnh viễn ra đi. Bà đã sống một cuộc đời trọn vẹn với non sông đất nước.

Nhà cách mạng lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị sống làm tướng, chết thành thần”. Có lẽ, không có một ngợi ca nào đẹp và chân tình hơn thế.

Box:

“Chị Ba Định là vị tướng cả thời chiến lẫn thời bình. Chị là một người phụ nữ có tính cách mạnh mẽ, kiên cường, ẩn trong vẻ đẹp dịu dàng, đôn hậu của phụ nữ Nam bộ. Ở cương vị nào chị cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao” –  Đại tướng Võ Nguyên Giáp

(Bài đăng trên tạp chí Người Đẹp, số 366, tháng 12.2014)

Có một nơi chỉ cần thả bước dạo quanh hay ngồi nhởn nhơ trong góc quán nhỏ bên đường, bạn tưởng như nghe được tiếng thì thầm kể những câu chuyện bi hùng vang vọng. Một nơi như dệt từ giấc mơ cổ tích, có nhấp nhô mái tháp gác chuông, có dòng sông uốn mình thần thoại. Nơi đó là thành phố vàng Praha.

Giấc mơ của nàng Libuse

Nhớ có những ngày tôi mê say xót thương và ngỡ ngàng chìm theo thực ảo của gã đạc điền K. trong tác phẩm “Lâu đài” đầy ám ảnh. Đó là lần đầu tôi biết đến Praha qua ngòi bút Kafka, có lâu đài, có không gian cổ kính và thiên nhiên mê hoặc. Ông vẽ ra một khung cảnh siêu thực tưởng chừng như mơ hồ.

Tôi có dịp đến thành phố quê hương của Kafka vào một ngày đầu đông lạnh buốt. Từ trên máy bay, Praha chào đón khách phương xa với rất nhiều ngọn tháp hắt ánh nắng vàng óng, lấp lánh. Từ sân bay Vaclav Havel bề thế về khách sạn ở khu phố cổ, xe lăn bánh dằn xóc từng nhịp trên con đường đá cổ ngàn năm tuổi như gợi lên niềm háo hức cho những ngày thú vị ở đây.

Truyền thuyết kể rằng, có một ngày, nàng công chúa kiều diễm Libuse của vương triều Bohemia mơ giấc mơ kỳ lạ về một thành phố lộng lẫy uốn quanh theo dòng Vltava. Chiều lòng nàng, hoàng gia cho xây dựng thành phố theo mô tả của nàng. Những nhà thờ mái vòm, những ngọn tháp mạ vàng lộng lẫy mang phong cách Roman, Gothic, được xây dựng trải dài trên chín ngọn đồi bao quanh. Pháo đài Vysehrad và Hradcany nổi bật và to lớn nhất. Những khu phố thẳng tắp mọc lên từ hướng bờ sông. Và trên dòng sông đó, ngay tại ngưỡng chặn nước (gọi là prah) sẽ mọc lên cây cầu đá vững chắc, tô điểm nên nét duyên dáng cho thành phố. Giấc mơ của nàng Libuse đã thành sự thật, thành phố từ giấc mơ được đặt tên là Praha.

Praha được thành lập trên giao lộ của những tuyến đường thương mại cổ xưa, là nơi giao thoa của các nền văn hóa và tâm linh. Nếu xem Praha như một bức tranh, thì bức tranh đó được các nghệ nhân chuyền tay nhau tô vẽ, hoàn thiện trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm. Thật may mắn khi Praha là một trong những nơi hiếm hoi ở Châu Âu không bị tàn phá bởi thời gian, nhất là sau hai cuộc Thế chiến. Những đường nét cổ kính trên những công trình kiến trúc ngàn năm gần như còn nguyên vẹn. Ngày nay, Praha là thủ đô của Cộng Hòa Czech, được thế giới biết đến như là trái tim của châu Âu.

Thành phố cổ tích

Tôi bước thảnh thơi trên con đường đá nhỏ quanh co dẫn ra quảng trường Old Town (Staromestke). Những con đường đá hẹp ở khu phố cổ có tuổi đời vài trăm năm, đều hướng về khu quảng trường trung tâm. Ngày đầu đông nhiều gió, lạnh buốt. Tôi chọn cho mình góc ngồi ấm cúng ở một quán cà-phê nhỏ bên đường, nhìn ra toàn cảnh Old Town.

Quảng trường là trung tâm hành chính của Praha từ thế kỷ thứ 10. Nơi đây đã chứng kiến lịch sử thăng trầm của Praha suốt ngàn năm, từ vương triều Bohemia đến đế chế La Mã, cho đến giai đoạn tăm tối dưới ách Phát-xít.

Khu quảng trường chính của phố cổ được bao quanh bởi nhà thờ Đức bà Tyn xây bằng đá xám với hai ngọn tháp cao vút và tháp đồng hồ thiên văn Oloj (the Astronomical clock) cổ nhất còn hoạt động từ thế kỷ thứ 15. Trong suốt hơn 500 năm qua, mỗi khi chuông Skeleton ngân vang báo giờ, 12 vị thánh tông đồ lần lượt dạo quanh một vòng như để giám sát trần thế dưới kia. Lại sắp tròn một vòng quay, du khách đổ về trước tháp đồng hồ ngày càng đông hơn. Tương truyền, ai nghe được tiếng chuông ngân vang đón vị thánh tông đồ sẽ gặp may mắn cho chuyến đi của mình. Ai cũng thành kính dõi theo, rồi rạng rỡ hò reo khi kết thúc một vòng quay. Đám đông nhanh chóng tan lẫn theo cơn gió lạnh. Có lẽ họ tìm đến cây cầu đã trở thành biểu tượng của Praha.

Dòng Vltava uốn lượn mềm mại chia đôi thành phố, một bên là phố cổ, một bên là những lâu đài nằm trên đồi cao, sừng sững, quyền uy nhưng tỏa nét đẹp nao lòng. Nối liền hai bờ có hàng chục chiếc cầu, nhưng 500 năm trước, cây cầu đá Charles là chiếc cầu duy nhất. Cầu Charles cổ nhất Châu Âu, mang tên người khai sinh ra nó, là vua Charles IV lừng lẫy bậc nhất lịch sử vùng Bohemian. Cầu Charles là một kỳ quan thời Trung cổ, được xây hoàn toàn bằng đá, gồm 16 nhịp, 3 tháp trụ, dài 516m, rộng 10m. Hai bên thành cầu điểm tô bằng 30 pho tượng thánh gắn liền với những câu chuyện trải dài suốt lịch sử văn hóa, tôn giáo của Praha.

Trời càng lạnh hơn, nhưng dòng người lên cầu ngày một đông. Tựa lên thành cầu phóng tầm mắt ra xa mờ mờ bọt nước li ti, tôi đang chiêm ngưỡng bức tranh êm đềm, lộng lẫy sắc màu. Mãi mê với những mái ngói, những gam màu và những đường nét kiến trúc gothic sắc gọn, tôi không nhận ra người nghệ sĩ già bên cạnh đang say sưa với cây kèn. Giai điệu jazz cổ điển giữa khung cảnh mùa đông nơi đây đủ sức níu chân khách bộ hành, ngẩn ngơ, say sưa như lạc lối về miền cổ tích. Những người nghệ sĩ đường phố chơi đủ các thể loại nhạc từ pop, rock, rap cho đến jazz hay nhạc cổ điển, cầu Charles như một nhà hát giữa trời, phô diễn cho bằng hết cái hay đẹp của nơi đây. Hãy thử ngồi lại vài phút, người họa sĩ đường phố sẽ làm bạn thích thú với bức chân dung biếm họa của mình chỉ bằng vài nét vẽ.

Chỉ cần dạo bước, Praha luôn biết cách khiến ta phải lòng. Những đôi lứa yêu nhau tìm đến đây, tâm hồn như trải rộng ra, để yêu và khao khát được yêu. Ba mươi pho tượng thánh điềm nhiên, vững chãi là chứng nhân muôn thuở của bao đôi lứa yêu nhau. Cầu Charles có lẽ vì vậy là cây cầu của Tình Yêu.

Không xa cầu Charles là con đường đá cổ uốn lượn dẫn lên lâu đài Hradcany (còn gọi là lâu đài Praha). Lâu đài cổ kính và nguy nga nằm trên triền đồi, mang đậm phong cách Bohemia phóng khoáng. Sách kỷ lục Guinness ghi nhận Hradcany là lâu đài cổ rộng lớn nhất thế giới, chiều dài 570m, chiều rộng 130m, diện tích gần 7 ha. Hoàng tử Borivoj cho xây lâu đài từ thế kỷ thứ 9, là quần thể gồm bốn cung điện, bốn nhà thờ lớn, nhiều tòa nhà, tháp canh và các khu vườn rộng lớn. Có thể nói không quá lời khi gọi lâu dài Praha là “thành phố trong thành phố”.

Nổi bật trong quần thể là đại thánh đường St.Vitus tráng lệ nhất Châu Âu. Các vương triều thay nhau hoàn thiện thánh đường St. Vitus trong suốt 6 thế kỷ, để tạo nên sự kỳ vĩ và hoàn thiện lung linh như ngày nay. Bước vào lâu đài Praha là bạn đang giở từng trang sử ngàn năm bi hùng của các vương triều xứ Bohemia, đang chạm vào từng ngõ ngách của lịch sử kiến trúc Châu Âu. Nơi đây hội tụ tất cả các phong cách kiến trúc từ Roman, Gothic, Baroque rồi Phục hưng, Rococo và Neo-clasical. Lâu đài cũng là bảo tàng lưu giữ vương miện Bohemia, bộ lễ phục dát vàng, thánh giá, thanh gươm nạm đá quý và các báu vật quốc gia. Hiện nay, lâu đài vẫn được sử dụng làm trụ sở của Chính phủ Cộng hòa Czech.

Tôi thích thú dành nhiều thời gian đến thăm Golden Lane. Một con hẻm nhỏ băng ngang 30 ngôi nhà hình thành nên khu phố cổ ngay trong lòng lâu đài. Các ngôi nhà nhỏ, thấp nhưng xinh xắn. Khu vực này xưa kia là nơi ở của lính gác, những người thợ kim hoàn và những người cùng đinh. Gọi là “hẻm vàng” nhưng là nơi khắc họa rõ sự phân biệt khắc nghiệt trong xã hội Trung cổ. Đặc biệt nhất là nhà số 12 ở cuối con đường. Franz Kafka, nhà văn lớn nhất của thế kỷ 20, cha đẻ của trường phái siêu thực hiện đại, đã từng ở đây. Có lẽ mái nhọn lâu đài Praha lộng lẫy, phong cảnh thơ mộng ngoài khung cửa là cảm hứng ông mang vào trong tác phẩm “Lâu đài”. Gã đạc điền K. chắc hẳn mang hình ảnh của những thợ thuyền ngày ngày qua lại trong con hẻm vàng này. Cuộc đời và tác phẩm của Franz Kafka luôn day dứt. Nỗi day dứt ấy như đối nghịch và ẩn chứa khắc sâu trong từng viên đá lát đường, trong hơi thở đầy khói lạnh mùa đông Praha.

Chiều mùa đông không ánh hoàng hôn, bầu trời chuyển sắc tím thẫm làm nền cho những cành cây khẳng khiu lác đác vài chiếc lá khô như níu kéo mùa sang. Dưới kia phố đã lên đèn, những chiếc cầu hắt ánh vàng loang loáng làm duyên với dòng sông. Tôi cứ bước ra triền đồi, đu mình lên mỏm đá đứng lặng yên, vẻ đẹp như thế được gặp vài lần trong đời đã là diễm phúc. Tiếng chuông thánh đường ngân vang giục giã, nhắc tôi phải quay về.

Ngoại ô yên bình

Đến thăm Praha, sẽ thật thiếu sót nếu bạn bỏ qua khu vực ngoại ô thành phố. Vùng ngoại ô luôn biết cách bổ sung cho khách phương xa những câu chuyện, như đường viền cho bức tranh hoàn hảo. Chỉ cách chưa tới nửa giờ xe có một ngôi làng êm đềm dường như vô danh nép mình trong khu rừng nhỏ. Phía cuối con đường làng, tòa lâu đài Karlstejn sừng sững, uy nghi trên vách đá. Lâu đài được xây dựng trong thời kỳ huy hoàng của vua Charles IV. Đây là pháo đài phòng thủ, được xem như viên ngọc quý ẩn mình của đế chế Roman, nơi bí mật tài trợ và huấn luyện cho các hiệp sĩ đảm bảo chi viện cho thủ đô Praha. Tiếc là Karlstejn không mở cửa vào mùa đông.

Ngôi làng nhỏ đáng yêu đón tôi bằng những bông tuyết rơi hờ hững. Trời đã chuyển hẳn sang đông. Tuyết chỉ rơi nhẹ, vừa đủ lạnh tê bàn tay hứng lấy, vừa đủ nên thơ. Trung tâm ngôi làng có một quãng sân rộng, vài bức tượng nhỏ và đài phun nước.  Vài người hóa trang thành “thiên thần thiện” áo trắng và “quỷ ác” áo đen đi phát kẹo cho trẻ em quanh làng. Hỏi ra tôi mới biết đó là ngày lễ thánh Nicholas (ngày 6 tháng 12), một lễ trọng của người Czech trước lễ Giáng sinh. Trời lạnh căm, làng nhỏ vắng người nhưng không khí lễ thánh ấm cúng và bình yên.

Những ngón tay trên phím đàn

Trở lại Praha, tôi chọn cho mình một góc ngồi quen thuộc bên phố cổ, thưởng cho mình một ly bia Plzen, quốc hồn quốc túy của người Praha. Ngoài kia, giữa quảng trường, chợ Giáng sinh đã nhóm từ khi nào. Tuyết đang rơi nhưng cả không gian phố cổ ấm áp. Mùa thánh, mùa yêu thương, ai mà không nao lòng. Rồi chỉ nay mai, cả thành phố sẽ phủ một màu tuyết trắng, Praha hẳn phải đẹp hơn khi đông về.

Mỗi năm Praha đón hơn 5 triệu lượt du khách, trong khi dân số chỉ hơn 1 triệu. Không phải một công trình cụ thể nào, mà là cả Thành phố Praha được UNESCO công nhận di tích văn hóa năm 1992. Có người ví Praha đẹp như bài thơ khắc trên đá, nhưng với tôi Praha thánh thót như những nốt nhạc tuyệt đẹp. Chẳng phải cũng từ nơi này mà Mozart đã viết nên bản giao hưởng số 38 như hòa âm cùng tiếng chuông vang vọng nơi tháp giáo đường xa xa. Lâu đài Hradcany, dòng Vltava và những cây cầu đá như những ngón tay trên phím đàn tạo nên bản hòa ca ngân vang cổ tích.

Truyền thuyết nói rằng nếu ai xoa tay vào chân tượng thánh trên cầu Charles, chắc chắn sẽ được trở lại Praha một ngày nào đó. Cũng như vô số du khách, tôi xoa tay vào chân tượng thánh mong ngày trở lại. Tôi hít căng đầy ngực một bầu không khí cổ tích, tôi phải lòng Praha mất rồi!

BOX:

Thông tin du lịch

  • Công dân Việt Nam cần visa để nhập cảnh vào Cộng Hòa Czech. Phỏng vấn cấp visa tại Đại sứ quán Cộng Hòa Czech tại Hà Nội, 13 Chu Văn An.
  • Bạn có thể đến tham quan Praha quanh năm, mùa nào cũng có nét riêng đặc sắc. Nhiệt độ thấp nhất khoảng -5ºC, cao nhất là 14ºC.
  • Từ Việt Nam có rất nhiều chuyến bay quốc tế đến Cộng Hòa Czech và Praha.
  • Phương tiện đi lại thuận tiện và dễ dàng khắp đất nước, cũng như đến các nước Châu Âu lân cận như Đức, Áo, Ba Lan.
  • Khách sạn ở Praha rất phong phú, nếu bạn đến vào mùa xuân và hè thì nên đặt phòng từ sớm vì rất đông du khách.
  • Cần lưu ý:
    • Chuẩn bị quần áo giữ ấm vì thời tiết Praha có thể trở lạnh bất ngờ, dù là mùa hè.
    • Dưỡng ẩm môi và da vì độ ẩm thấp, không khí rất khô.
    • Trang phục phù hợp tham quan các lâu đài, đền tháp, thánh đường.
  • Không thể bỏ qua:
    • Bạn nên mang về hai đặc sản nổi tiếng thế giới của Praha là pha lê và đồ gốm.
    • Bạn nhất định phải thử bia ở Praha, có hàng trăm loại bia cho bạn lựa chọn,
    • Nên dùng thử các loại thịt nướng dùng kèm khoai tây nghiền hay thịt heo hầm với bánh mỳ hấp và dưa cải muối ngon tuyệt.
  • Các phương tiện thông tin, mạng di động và internet rất phổ biến và thuận tiện.
  • Tiền tệ là đồng Krown (CZK), tỷ giá USD 1 ~ CZK 22.
  • Ngôn ngữ chính là tiếng Czech, tiếng Slovakia và Đức được sử dụng phổ biến. Tiếng Anh không được sử dụng rộng rãi, nhưng có thể sử dụng với những người trẻ tuổi.
  • Múi giờ Praha là GMT +1, tức là sau Việt Nam 6 giờ.

IMG_7639

Hàng ngày tôi đi làm về trên con đường nhỏ, hun hút, lờ mờ ánh đèn vàng vạc. Con đường dọc khu công ty đường sắt đêm xuống cửa đóng im lìm. Khu chung cư đối diện cũng uể oải khép mình. Cả con đường khu trung tâm thành phố vì vậy như thêm hun hút, lờ mờ. Bước đi trên con đường đó tưởng như nghe được cả bước chân mình, chỉ một mình, ngay cả cái bóng cũng nhàn nhạt. Khách lạ đường hẳn sẽ ngần ngại, nhưng với tôi, tôi thấy dễ chịu. Có lẽ, tôi đã thân, đã quen cả con đường này, quen cả cái lờ mờ kỳ lạ của nó.

Có những khi, bên lề đường hắt bóng neon trắng lạ lẫm từ căn phòng nhỏ cửa mở, một nhóm nhỏ người đứng ngồi. Ánh neon trắng nhưng ám ảnh, nhóm người đứng ngồi bất an. Hay nói đúng hơn, tôi thấy bất lực, tôi nghẹt thở. Có khi bước chân dường như cùng nhịp với ánh đèn đỏ xoay tít của xe cấp cứu đậu thờ ơ ngay trước cửa. Hai sắc trắng, đỏ nhưng u ám, phá vỡ ánh lờ mờ vàng vạt yên bình của bước chân và hơi thở.

Có những khi, giữa trời nắng chang chang của miền nhiệt đới mà thấy lạnh như run lên, một màu xám xịt tô vẽ ong ong trước mặt. Bên vệ đường, hai người phụ nữ, một đã già, một dường như không nhận rõ tuổi tác, cơ mặt bà ta như đông cứng, ánh mắt vô hồn như bức vẽ. Không một giọt nước mắt. Nhưng vẽ ra cho tôi chỉ một màu xám xịt.

Ở đó, bên vệ đường, sau tất cả là căn phòng gọi là “nhà vĩnh biệt”.

Chỉ vài bước chân, người ta vẫn mua bán, vẫn ăn uống. Cả một chợ trời nho nhỏ dường như xem căn phòng đó vô hình. Màu xám tô khắc mãi hẳn đã hoá thành trong suốt vô hình. Hoặc thoảng khi, vài ánh mắt, cái chỉ tay hiếu kỳ như lạc lõng tìm sang.

Chỉ vài bước chân, dòng xe chảy xoắn quanh tạo ra dòng đời bao nhiêu cái muốn lấp lánh. Chỉ đang thiếu một ánh mắt vô hồn.

Địa ngục hay cõi cực lạc, chẳng cần tìm đâu, chỉ một vài bước chân, một ý niệm, vài sắc trắng đỏ hay xám xịt.

Vị con người…

Loài người trong suốt quá trình tiến hoá đã tạo ra hình thái xã hội lấy luật pháp làm thước đo hành xử. Cao hơn nữa là những quy phạm hướng đến con người và vị con người, lấy con người làm trung tâm, nền tảng cơ bản của nhân quyền. Không hẳn vì có tư duy có ý thức làm nên sự khác biệt của loài người so với loài khác, mà chính là tổ chức xã hội nhà nước có pháp luật vị con người mới làm nên sự khác biệt bậc cao của loài người.

Sự khác biệt đó là gi? Đó là nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình điều tra. Một người chỉ thật sự có tội khi có đầy đủ bằng chứng chống lại sự vô tội và được xét xử ở một toà án mà bị cáo đủ năng lực hành vi và được quyền bào chữa. Ngoài ra, trước đó anh ta phải được xem là vô tội. Nếu không đủ bằng chứng thì không kết án theo suy đoán. Vị con người không bao giờ cho phép một xã hội văn minh làm thế. Vậy mà ta đang làm thế với Hồ Duy Hải.

Sự khác biệt đó là gì? Đó là những gì luật không cấm thì được phép làm. Đơn giản là không có luật thì vi phạm gì? Một xã hội văn minh không bao giờ có chuyện xử phạt điều mà luật không cấm, cho dù điều đó có gây thiệt hại. Nó thể hiện trình độ của xã hội đó, luật yếu kém không theo kịp cuộc sống hoặc tuỳ tiện mông muội. Vậy mà ta đang làm thế với Uber.

Nỗi sợ, cái tuỳ tiện và sự kềm hãm cái mới đã ăn sâu vào từng con người, vào cả đât, cả nước. Đưa tay là chạm vào nỗi sợ!

Our beloved Teacher is now in the hospital with positive situation…

Sáng nay anh nhắn vội, theo tin từ Plumvillage, Sư Ông trở bệnh nặng, đang nằm viện. Thầy cũng đã gần 90. Biết rồi cũng sẽ đến ngày này nhưng nghe tin sao hụt hẫng, lo lắng.

Vợ chồng mình từng mong muốn được tham dự khóa tu tại Làng Mai (Pháp) một lần, hay ít ra cũng gặp lại Thầy một lần nữa, sau ngày ấy…

Một ngày tháng 5 năm 2006, có hai đứa tung tăng hẹn hò ở chùa Vĩnh Nghiêm, chen chúc một lát trong đám người đông đúc, cuối cùng cũng kiếm được chỗ để ngồi xếp bằng ngay ngắn, mục đích là được nhìn rõ Thầy và nghe Thầy nói pháp thoại. Bài pháp thoại hôm ấy là Bốn bài học về Yêu Thương. Đó là bài pháp thoại hay nhất mình được nghe trong đời cho đến nay, cũng là buổi pháp thoại “sang trọng” và hi-tech nhất mà mình từng tham dự, với máy móc hiện đại, phát live trên internet để Phật tử khắp nơi trên thế giới có thể theo dõi. Thỉnh thoảng mình hơi mất tập trung tí khi quan sát những đệ tử ở xung quanh Thầy, trong những người lo việc hậu cần là máy móc đèn chiếu hay làm việc đưa tin có những người Phương Tây cao ráo, trắng trẻo, đẹp và có cử chỉ dáng đi rất thanh thoát. Lần đầu tiên mình nghe giảng pháp mà không có những lời tụng niệm ê a, chỉ có tiếng chuông trong trẻo, các sư cô sư chú hát đồng ca nhẹ nhàng mà rất hay.

Lần đầu tiên mình nghe và nhận diện sâu sắc về “sự có mặt tươi mát”. Khi mình ở bên người thân, là mình đã dâng hiến cho người ấy một món quà, là sự có mặt của mình. Điều đó rất đáng quý, nhưng phải là sự có mặt “tươi mát” thì mới có ý nghĩa trọn vẹn. Rồi thầy dạy về bốn bài học về thương yêu. Thầy dạy cho đại chúng biết cách giải quyết vấn đề xảy ra với người thân…

Sau này một người bạn thân gởi lại mình cái link từ langmai về nghệ thuật yêu thương (hai đứa từng bảo nhau là có cái gì hay và lợi lạc thân tâm thì gởi cho nhau xem), mình nhớ ngay lần gặp Thầy năm ấy. Mình được nghe trực tiếp từ Thầy, ngồi chỉ cách Thầy hơn chục bước nên cảm xúc lung linh lắm, tuyệt vời lắm. Và lần đầu tiên mình cảm nhận được vẻ tự tại hạnh phúc từ một vị Thiền Sư lan tỏa sang mình. Xung quanh mình là năng lượng từ bi, năng lượng của hạnh phúc.

Dù sao, được gặp Thầy một lần trong đời đã là may mắn. Có thể mình không còn may mắn đó nữa. Dù sao, mình vẫn còn cơ hội tiếp xúc với Thầy mỗi ngày, qua hơn 100 cuốn sách của Thầy… Mình có một dự tính nhỏ nhoi, là sẽ sưu tập số sách này, mà mình sẽ gọi là “những cuốn sách hạnh phúc”.

Chia sẻ với bạn mình bài Nghệ Thuật Yêu Thương (bài viết hơi vắn tắt). Khi nghe và thực tập theo, bạn chỉ có được một thứ duy nhất là lợi lạc.

http://langmai.org/…/phap-thoai-phien…/nghe-thuat-thuong-yeu

P.s Từ sáng giờ, cứ thót tim khi nghe cập nhật tình hình của Thầy. The lastest updated is “The Passing of Thich Nhat Hanh (Update: he is in hospital and “full recovery may be possible”)”

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.