Our beloved Teacher is now in the hospital with positive situation…

Sáng nay anh nhắn vội, theo tin từ Plumvillage, Sư Ông trở bệnh nặng, đang nằm viện. Thầy cũng đã gần 90. Biết rồi cũng sẽ đến ngày này nhưng nghe tin sao hụt hẫng, lo lắng.

Vợ chồng mình từng mong muốn được tham dự khóa tu tại Làng Mai (Pháp) một lần, hay ít ra cũng gặp lại Thầy một lần nữa, sau ngày ấy…

Một ngày tháng 5 năm 2006, có hai đứa tung tăng hẹn hò ở chùa Vĩnh Nghiêm, chen chúc một lát trong đám người đông đúc, cuối cùng cũng kiếm được chỗ để ngồi xếp bằng ngay ngắn, mục đích là được nhìn rõ Thầy và nghe Thầy nói pháp thoại. Bài pháp thoại hôm ấy là Bốn bài học về Yêu Thương. Đó là bài pháp thoại hay nhất mình được nghe trong đời cho đến nay, cũng là buổi pháp thoại “sang trọng” và hi-tech nhất mà mình từng tham dự, với máy móc hiện đại, phát live trên internet để Phật tử khắp nơi trên thế giới có thể theo dõi. Thỉnh thoảng mình hơi mất tập trung tí khi quan sát những đệ tử ở xung quanh Thầy, trong những người lo việc hậu cần là máy móc đèn chiếu hay làm việc đưa tin có những người Phương Tây cao ráo, trắng trẻo, đẹp và có cử chỉ dáng đi rất thanh thoát. Lần đầu tiên mình nghe giảng pháp mà không có những lời tụng niệm ê a, chỉ có tiếng chuông trong trẻo, các sư cô sư chú hát đồng ca nhẹ nhàng mà rất hay.

Lần đầu tiên mình nghe và nhận diện sâu sắc về “sự có mặt tươi mát”. Khi mình ở bên người thân, là mình đã dâng hiến cho người ấy một món quà, là sự có mặt của mình. Điều đó rất đáng quý, nhưng phải là sự có mặt “tươi mát” thì mới có ý nghĩa trọn vẹn. Rồi thầy dạy về bốn bài học về thương yêu. Thầy dạy cho đại chúng biết cách giải quyết vấn đề xảy ra với người thân…

Sau này một người bạn thân gởi lại mình cái link từ langmai về nghệ thuật yêu thương (hai đứa từng bảo nhau là có cái gì hay và lợi lạc thân tâm thì gởi cho nhau xem), mình nhớ ngay lần gặp Thầy năm ấy. Mình được nghe trực tiếp từ Thầy, ngồi chỉ cách Thầy hơn chục bước nên cảm xúc lung linh lắm, tuyệt vời lắm. Và lần đầu tiên mình cảm nhận được vẻ tự tại hạnh phúc từ một vị Thiền Sư lan tỏa sang mình. Xung quanh mình là năng lượng từ bi, năng lượng của hạnh phúc.

Dù sao, được gặp Thầy một lần trong đời đã là may mắn. Có thể mình không còn may mắn đó nữa. Dù sao, mình vẫn còn cơ hội tiếp xúc với Thầy mỗi ngày, qua hơn 100 cuốn sách của Thầy… Mình có một dự tính nhỏ nhoi, là sẽ sưu tập số sách này, mà mình sẽ gọi là “những cuốn sách hạnh phúc”.

Chia sẻ với bạn mình bài Nghệ Thuật Yêu Thương (bài viết hơi vắn tắt). Khi nghe và thực tập theo, bạn chỉ có được một thứ duy nhất là lợi lạc.

http://langmai.org/…/phap-thoai-phien…/nghe-thuat-thuong-yeu

P.s Từ sáng giờ, cứ thót tim khi nghe cập nhật tình hình của Thầy. The lastest updated is “The Passing of Thich Nhat Hanh (Update: he is in hospital and “full recovery may be possible”)”

Ngày còn nhỏ, đứa trẻ nào mà không say sưa tô vẽ bao nhiêu hình ảnh trong trí tưởng tượng bất tận mỗi khi ngước lên bầu trời đêm. Trên nền đêm đen, ánh trăng sáng vằng vặc huyền ảo, chi chít ánh sao dệt nên dải ngân hà. Bầu trời những đêm không mây quả thật ảo diệu như cổ tích. Ngồi đó mà nhìn ngắm có hàng giờ không chán. Rồi tưởng như có thể chạm vào trăng sao. Ân huệ lớn lao khi con người biết cách rời khỏi mặt Đất Mẹ ra ngoài không gian sâu thẳm kia, rồi bước bước chân nhỏ bé trên Mặt Trăng mà rưng rưng nhìn lại.

Tổ tiên loài người đã từng sụp lạy khi thấy vệt sao chổi bay qua. Hôm nay, người ta đuổi theo được một ngôi sao chổi đang bay “té khói” và đáp thành công tàu vũ trụ lên đó. Nhân loại quả thật đã bước xa hơn một giấc mơ.

P.S. (Ngày 12/11/2014) tàu vũ trụ Rosetta sau hơn 10 năm đuổi theo, vừa đáp thành công xuống sao chổi 67P (đang bay với vận tốc… 65000 km/h). Dự án kéo dài hơn 30 năm của mấy thế hệ nhà khoa học thiên văn đã thành công đầy cảm xúc.

Sao chổi y hệt hành tinh của Hoàng tử bé

Link xem trực tiếp: http://www.nasa.gov/multimedia/nasatv/index.html

(Bài đăng trên tạp chí Người Đẹp, chuyên san báo Tiền Phong, số 365 – 11.2012)

Đến Varanasi là đến với bảo tàng sống về văn hóa và tôn giáo đặc sắc của Ấn Độ. Nơi đây đưa ta quay lại thời gian để đắm mình vào không gian thần thoại, để chạm vào linh thiêng của ngàn năm cũ.

Xưa hơn lịch sử, cổ hơn truyền thống

Đến Ấn Độ mà chưa đến Taj Mahal xem như chưa đến Ấn Độ, chưa đến sông Hằng bên thành phố Varanasi là chưa hiểu gì về Ấn Độ.

Tôi đến Varanasi vào một buổi chiều muộn, nắng đã tắt. Chuyến tàu lửa đi từ Agra đến Varanasi khá suôn sẻ, chỉ trễ hơn 3 giờ. Ở Ấn Độ, 3 giờ trễ tàu có thể xem là đúng giờ. Thử xem bản đồ đường sắt Ấn Độ sẽ bị hoa mắt bởi các tuyến đường dọc ngang chằng chịt. Đi tàu lửa ở đất nước hơn một tỷ dân, đất đai rộng lớn trải dài, là một trải nghiệm thú vị và đáng nhớ.

Khách sạn ở Varanasi tập trung chủ yếu gần các bến sông, gọi là Ghat. Tôi vừa xem bản đồ vừa len qua dòng người trong những con hẻm chật chội, đan xen lằng ngoằng đầy mùi vị, tiếng ồn lẫn màu sắc sặc sỡ. Cả không gian bao trùm mùi vị đặc trưng như xộc thẳng vào các giác quan, mùi của nhang khói, gia vị, sữa chua và… phân bò. Dọc các con hẻm nhỏ dẫn ra Ghat người ta bày bán đủ thứ bột màu, hoa quả, nhang đèn phục vụ cho việc cúng tế. Thỉnh thoảng phải nép người vừa đủ để nhường đường cho đám khiêng xác ra bờ sông, vừa đi vừa đọc kinh trầm hùng. Vừa đặt chân đến đây, lần đầu tiên cảm nhận vùng đất quá khác biệt, tôi cảm thấy rùng mình. Dù đã đọc nhiều về nơi này nhưng đến khi tiếp xúc trực diện tôi vẫn thấy lạ lẫm và quá khác biệt. Một cảm giác sợ hãi mơ hồ ùa đến.

Người hành hương đến đây rất đông, du khách cũng rất đông nên khách sạn gần các Ghat hầu như chật kín. Tìm hỏi những khách sạn được giới thiệu trong Lonely Plannet mới kiếm được một phòng còn trống ở một trong những Ghat lớn nhất Varanasi, Ghat Manikarnika – Ghat thiêu xác! Thế là check-in và chuẩn bị tinh thần chiêm ngưỡng Varanasi.

Thành phố miền Bắc Ấn Varanasi, tên cổ xưa là Benares, cách Agra khoảng hơn 500 km, là thành phố cổ bên dòng sông Hằng huyền thoại. Varanasi còn là một trong ba thành phố cổ nhất thế giới với lịch sử hơn 5000 năm tuổi. Văn hào Mỹ Mark Twain đã ví von “Varanasi xưa hơn lịch sử, cổ hơn truyền thống, cũ hơn cả huyền thoại và tuổi của nó gấp đôi tất cả những thứ vừa kể cộng lại”. Mọi thứ từ hàng ngàn năm trước như vẫn còn nguyên vẹn nơi đây.

Dòng sông chảy lên thiên đường

Trải nghiệm đầu tiên là vừa ăn tối trên sân thượng khách sạn vừa ngắm sông Hằng trong đêm, cạnh bên là các cột khói thiêu xác, khét nghẹt bốc lên từ phía bờ sông. Ở đây người ta thiêu xác cả ngày lẫn đêm.

Sông Hằng vốn chảy từ Bắc xuống Nam, riêng tại Varanasi, sông Hằng ngược từ Nam lên Bắc, về nơi đầu nguồn Himalaya. Người Hindu tin rằng tại Varanasi, sông Hằng chảy lên thiên đường. Đối với người dân Ấn mà đa số là những người theo đạo Hindu thì Varanasi là thánh địa linh thiêng bậc nhất, là thành phố của thần Shiva. Họ khao khát đến được đây tắm mình trong dòng nước sông Hằng ít nhất một lần trong đời. Họ tâm nguyện được chết tại thành phố này, tro cốt phải được rải xuống sông với niềm tin mãnh liệt rằng nơi đây là cửa ngỏ để trở về với đại ngã bao la. Không ai giải thích vì sao Varanasi trở thành thánh địa thiêng liêng của thần Shiva, nguồn gốc đó hẳn nằm sâu trong những câu kinh Vệ-đà thần thoại. Varanasi còn được xem là “kinh đô ánh sáng”, không như Paris của châu Âu, ánh sáng ở đây là ánh mặt trời. Và mặt trời của Varanasi mọc bên bờ sông Hằng là một cảnh tượng thần thánh.

Hôm sau, để xem mặt trời mọc, tôi ra sông khi trời còn chưa sáng. Thuê thuyền đi dọc theo bờ, dọc theo các Ghat, nơi hàng ngàn năm qua tín đồ Hindu vẫn đều đặn hành lễ đón ánh dương ngày mới. Ở đằng đông, bên kia bờ sông, mặt trời ửng lên vài tia sáng rồi tắt ngấm trong màn mây, đầy tiếc nuối. Ánh dương không ngời sáng vẫn đủ nhuộm đỏ hừng hực khắp các bến sông, loang loáng mặt nước, soi rọi như thần thánh hóa từng bậc thang, từng góc nhỏ của những ngôi đền cổ bằng đá.

Một cảnh tượng kỳ lạ. Hàng ngàn người đang tắm mình dưới dòng sông, họ lặn hụp, vái lạy và cầu nguyện. Trên bờ, cũng hàng ngàn người náo nhiệt cầu nguyện, tụng niệm, giặt giũ. Tất cả đều hướng về ánh mặt trời, thành kính và thần bí. Tôi đưa tay vọc xuống dòng nước, khắp mặt sông phủ kín sắc vàng, cam của hoa và đèn cúng vừa được thả xuống. Ngồi trên thuyền mà ngỡ như mình vừa quay lại thời gian, đắm mình vào không gian thần thoại của ngàn năm cũ.

Trong hơn 80 Ghat trải dài gần mười cây số bờ sông, Dasaswamedh là Ghat thiêng liêng nhất của thần Brahma, dành cho người sống. Ghat thiêu xác Manikarnika là Ghat có “quyền uy” nhất của thần Vishnu, dành cho người chết. Trên các bãi thiêu xác, giàn hỏa như không bao giờ tắt. Mùi gỗ cháy, mùi da thịt lẫn trong nước thơm và tiếng tụng niệm bay trong không gian. Xác thiêu xong sẽ được rải ngay xuống sông. Cách đó không xa, đàn bò vẫn nhởn nhơ tắm và hàng ngàn người vẫn thản nhiên đắm mình hành trì.

Nơi đây khiến mọi giác quan căng đầy, tràn ngập. Xuôi dòng trở về bến, đã đủ lắng đọng, tâm có thể mở ra đón nhận sự khác biệt, sự đối nghịch bày ra trước mắt, bày ra cả trong tâm thức.  Ngồi trên sân thượng nhấm nháp ly Chai nóng (một loại trà sữa có gia vị), tôi đang nếm được nền văn hóa “giàu có” và đậm đà của Ấn Độ. Chỉ đừng sợ hãi, hãy đón nhận.

Lộc Uyển – thánh địa hồi sinh

Hôm sau, tôi đón xe đi Sanarth, nơi có vườn Lộc Uyển, cách trung tâm thành phố Varanasi khoảng 13 km. Chiếc riskshaw chạy ào ào trên con đường thắng tắp, bụi bặm và dằn xóc. Sanarth cũng giống như bất cứ vùng quê nào, với những mái nhà vách đất thấp lè tè, bò dê nhởn nhơ.

Lộc Uyển là một trong bốn thánh địa lớn của Phật giáo, xưa kia theo mô tả trong kinh sách là một khu vườn rộng lớn, xanh mát, có rất nhiều nai trú ngụ nên được gọi là Vườn Nai (Lộc Uyển). Sau khi giác ngộ Đạo-tỉnh-thức, Đức Phật đã một mình băng rừng hơn nửa tháng từ gốc bồ đề đến đây giảng bài giảng đầu tiên và thành lập tăng đoàn sau đó.

Lộc Uyển là khu di tích được người Ấn chăm sóc, bảo quản khá tốt, sạch sẽ, tươm tất dù chỉ là phế tích với những nền gạch đỏ sót lại. Nguyên vẹn nhất là ngọn tháp Dhamekh cao 33m ở trung tâm. Tháp Dhamekh nguyên gốc được vị vua sùng kính Phật giáo, Ashoka đại đế, cho xây vào giữa thế kỷ thứ 3 trước công nguyên nhằm đánh dấu và kỷ niệm thánh địa. Theo thời gian, cùng với cuộc thăng trầm của Phật giáo trên đất Ấn, ngọn tháp và thánh tích Lộc Uyển bị lãng quên, chôn vùi dưới mấy tầng cát bụi và lịch sử, cho đến khi nhà khảo cổ người Anh Cunningham có công tìm ra và khôi phục.

Giờ đây, thánh địa đã hồi sinh, Phật tử khắp nơi trên thế giới hành hương tìm về. Lộc Uyển đón chào khách phương xa bằng vẻ yên bình trầm mặc, trái ngược hẳn không khí náo nhiệt ở trung tâm Varanasi. Quanh tháp Dhamekh, vài vị tu sĩ đang đọc kinh, có vị đang ngồi thiền, lần tràng hạt. Một vị sư người Ấn Độ đang kính cẩn thắp hương và dâng hoa quanh tháp. Lát sau, vị ấy bước đến gần, cười hiền hậu và đưa cho tôi nén hương. Thắp hương nơi thánh địa là một ân huệ bất ngờ, một trải nghiệm tâm linh thú vị, khó tả.

Mẹ Vĩ Đại

Varanasi là nơi thánh địa của hai tôn giáo lớn, Hindu giáo và Phật giáo, nơi có dòng sông Hằng chảy qua. Sông Hằng trong tiếng Hindi gọi là Gange, nghĩa là Mẹ Vĩ Đại. Trong tâm thức người dân Ấn, bất kể tôn giáo nào, bất kể đang ở phương trời nào, sông Hằng luôn là dòng sông linh thiêng nhất, luôn được hướng về. Vì đó là mẹ, là quê hương và là phần tâm linh không thể thiếu. Sông Hằng cũng như một số con sông lớn khác ở Châu Á bắt nguồn từ dãy Himalaya. Dòng Mekong, mà hạ nguồn là sông Cửu Long của Việt Nam, cũng bắt nguồn từ đó.

Hằng năm, Varanasi đón hàng triệu lượt du khách. Họ đến một bảo tàng sống về văn hóa, về truyền thống đặc sắc của Ấn Độ. Có thể nói, các tập tục, các truyền thống, nghi lễ văn hóa của Ấn Độ và Hindu giáo được giữ gìn gần như nguyên vẹn một cách đáng kinh ngạc. Tại Varanasi, cũng các cách thức đó, các nghi lễ đó, mặt trời đó, người ta đã hành trì, cầu nguyện và sống như thế suốt hàng ngàn năm qua.

BOX

Tips/Guide

  • Công dân Việt Nam cần visa để nhập cảnh vào Ấn Độ, tuy nhiên thủ tục xin visa tại Lãnh Sự Quán Ấn Độ rất dễ dàng.
  • Thời điểm lý tưởng để đến Varanasi từ tháng 10 đến tháng 3, thời tiết mát mẻ, se lạnh. Mùa hè ở đây rất nóng bức.
  • Không có đường bay trực tiếp từ Việt Nam đến Varanasi. Có thể bay trực tiếp đến New Delhi, từ đây dễ dàng đến được Varanasi bằng đường hàng không, đường sắt và đường bộ.
  • Khách sạn ở Varanasi rất phong phú, bạn nên tự tìm trên Google, rồi vào trang web của khách sạn đó, liên lạc với họ qua e-mail, đặt phòng trước.
  • Cần lưu ý:
    • Không chụp ảnh ở Ghat thiêu xác – Manikarnika.
    • Trang phục phù hợp và cởi giày khi vào tham quan các ngôi đền.
  • Không thể bỏ qua:
    • Bạn nên mang về hai đặc sản nổi tiếng thế giới của Varanasi là lụa và thảm.
    • Bạn nên thử các loại kẹo và bánh ngọt ngon tuyệt ở Varanasi.
  • Các phương tiện thông tin, mạng di động và internet rất phổ biến và thuận tiện.
  • Tiền tệ là đồng Rupee (Rs), tỷ giá USD 1 ~ Rs 60.
  • Ngôn ngữ chính là tiếng Hindi nhưng tiếng Anh được sử dụng rộng rãi.
  • Múi giờ Varanasi là GMT +5:30, tức là sau Việt Nam 1 giờ 30 phút.

(Khôi Nguyên)

Varanasi 1-1

Varanasi 2-1

(Bài đăng trên tạp chí Người Đẹp, chuyên san báo Tiền Phong, số 365 – 11.2012)

“Nếu tôi giành giải Nobel Hòa Bình, đó sẽ là cơ hội tuyệt vời cho tôi, nhưng nếu không được giải thì cũng không quan trọng bởi vì mục tiêu của tôi không phải để có được giải Nobel Hòa Bình, mà là có được hòa bình và nhìn thấy mọi trẻ em đều được đi học” – Malala Yousafzai

Buổi sáng ngày 10 tháng 10, giải Nobel Hòa Bình 2014 được trao cho hai người cao quý của Pakistan (Malala Yousafzai) và Ấn Độ (Kailash Satyarthi). Tin tức đó làm nức lòng những người yêu chuộng hòa bình khắp thế giới, và dĩ nhiên người dân của hai quốc gia này đã vui mừng chia sẻ cho niềm hy vọng lớn lao của họ.

Họ có điểm chung đều là những con người hết sức bình thường và có cuộc sống bình thường. Nhưng rồi họ bị xô đẩy phải trở thành biểu tượng, trở thành người hoạt động cách mạng cho đời mình và cho dân tộc. Câu chuyện của cô gái 17 tuổi, Malala Yousafzai, người trẻ tuổi nhất từng đoạt giải Nobel Hòa Bình là một câu chuyện giàu cảm xúc, đầy cảm hứng và thán phục.

Bị bắn vào đầu

Vừa đúng hai năm trước ngày nhận giải Nobel Hòa Bình, ngày 9 tháng 10 năm 2012, cô bé 15 tuổi Malala Yousafzai cùng bạn bè vui vẻ hát hò trên chuyến xe buýt sau buổi thi cuối học kỳ. Xe vừa ra khỏi thành phố Mingora, Pakistan thì bị hai người đàn ông cầm súng chặn lại. Chúng bước lên xe, hỏi: “Đứa nào là Malala Yousafzai?”. Mọi người đều im lặng, một cách vô thức ánh mắt các em hướng về Malala. Họng súng giương lên, hai phát súng khô khốc, một vào đầu, một vào cổ, Malala gục xuống. Hai tên sát thủ nhanh chóng tẩu thoát, chúng thuộc nhóm Hồi giáo cực đoan Taliban đang hoạt động rất mạnh trong khu vực Mingaro, Pakistan.

Trong những ngày sau đó, cô bé bất tỉnh và lâm vào tình trạng nguy kịch. Ngày 15 tháng 10, Malala được chuyển sang Bệnh viện Nữ hoàng Elizabeth ở Birmingham, Vương Quốc Anh để tiếp tục điều trị. Trong khi cô gái 15 tuổi còn đang phải đấu tranh giữa sự sống và cái chết, bên ngoài phòng bệnh cả thế giới đã biết về câu chuyện của cô và tôn vinh cô như một biểu tượng mới của thế giới trong công cuộc đấu tranh vì nữ quyền.

Vụ sát hại đẫm máu Malala đã dấy lên làn sóng phản đối phiến quân Hồi giáo Taliban gay gắt ngay tại quê hương Pakistan của cô. Lần đầu tiên tại Pakistan, tất cả các đảng phái chính trị cũng như các tôn giáo đều thống nhất lên án hành động vô nhân đạo, dã man của Taliban và cùng cầu nguyện cho Malala.

Điều gì đã khiến Taliban sợ hãi đến độ phải ra tay sát hại một cô bé chỉ mới 15 tuổi?

Kẻ thù của Taliban

Malala Yousafzai sinh ngày 12 tháng 7 năm 1997, tại Mingora, ở thung lũng Swat, Pakistan. Trong những năm đầu tiên của cuộc đời mình, quê hương cô vẫn là một địa điểm du lịch phổ biến được biết đến với nhiều lễ hội mùa hè. Tuy nhiên, thung lũng Swat yên bình này bắt đầu thay đổi khi bị Taliban kiểm soát và áp dụng đạo luật hà khắc Sharia. Đạo luật cấm vận người dân tiếp xúc với truyền hình, âm nhạc, cấm việc dạy học cho nữ giới và thậm chí phụ nữ không được đi mua sắm.

Cuối năm 2008, nhà báo Aamer Ahmed Khan của đài BBC cùng các đồng nghiệp tìm một nữ sinh ở Swat để kể lại ảnh hưởng của Taliban đăng gia tăng tại đây. Tuy nhiên không nữ sinh nào dám làm điều đó vì quá nguy hiểm. Quân đội Taliban đã chiếm lĩnh và kiểm soát hoàn toàn làng Swat. Cuối cùng ông Yousafzai đã đề xuất con gái mình, Malala Yousafzai, mới 11 tuổi và chuẩn bị vào lớp 7.

Đầu năm 2009, Yousafzai bắt đầu viết blog cho BBC kể về sự tàn khốc và can thiệp chính trị của Taliban tại Swat. Cô bé đặc biệt viết về cuộc sống dưới chế độ hà khắc, về các sắc lệnh vi phạm nữ quyền và việc cấm hoàn toàn quyền được học hành của nữ giới. Để che giấu thân phận của mình, cô đã sử dụng bút danh Gul Makai. Taliban bắt đầu tấn công mạnh mẽ hơn đến các trường học dành cho nữ ở Swat, hàng trăm trường học ở những khu vực Taliban kiểm soát đã bị đốt và phá bỏ. Không khí chính trị và cuộc sống người dân thật sự ngột ngạt, đầy khủng bố. Thế nhưng, cô gái bé nhỏ đã dũng cảm, không sợ hãi, nổi bật lên như một nhà hoạt động mạnh mẽ cho các quyền cơ bản, đặc biệt là quyền được tiếp cận giáo dục của nữ giới.

“Làm sao Taliban có thể dám lấy đi quyền cơ bản của tôi về giáo dục?” câu khẳng định mạnh mẽ của Malala khi mới 12 tuổi, phát biểu trước đám đông ở Peshawar, Pakistan đã khiến cô trở thành cái gai trong mắt của Taliban. Hơn hết, những trang viết mô tả chân thật về bản chất của Taliban trên BBC đã đẩy cô vào thế đối đầu. Cô trở thành kẻ thù của Taliban!

Sau một thời gian hăm dọa và khủng bố tinh thần Malala và gia đình, Taliban cho đăng tải rộng rãi trên báo chí địa phương bản án tử hình của cô, thậm chí chúng còn để trước cửa nhà. Cảnh giác, nhưng Malala không hề sợ hãi. Malala vẫn hiên ngang đến trường và tiếp tục vận động các bạn gái của mình đi học. Và Taliban đã quyết tâm thực hiện bản án dã man với bé gái 15 tuổi trên chuyến xe buýt bằng hai phát súng.

Đấu tranh không ngừng nghỉ

Vụ ám sát đã thật sự biến cô bé trở thành biểu tượng toàn cầu. Người dân Pakistan đã cùng cầu nguyện tập thể cho Malala. Làn sóng cầu nguyện lan sang Afghanistan và khắp các quốc gia Hồi giáo. Chính Phủ Mỹ, Liên Hiệp Quốc, Quỹ Phụ nữ toàn cầu… đều lên án hành vi tàn bạo của Taliban. Trên các mạng xã hội như Twitteer, Facebook, cư dân mạng cả thế giới tôn vinh Malala là một anh hùng.

Yousafzai, ba của Malala, phát biểu bên giường bệnh của con gái: “Khi Malala ngã xuống, nước Pakistan đứng dậy và cả thế giới đều ủng hộ.” Nhưng Malala đã không ngã xuống, cô hồi sinh một cách kỳ diệu sau ca phẫu thuật sọ não. Taliban đã thất bại! Không chỉ là thất bại, Taliban đã phạm sai lầm nghiêm trọng khi muốn giết Malala. Họ muốn bịt miệng cô. Thay vào đó, họ khuếch đại giọng nói và tinh thần của cô ra toàn thế giới. Taliban đã làm cho cô trở thành một biểu tượng mạnh mẽ trong thời đại truyền thông.

Malala trở thành người ủng hộ cho quyền trẻ em được ngưỡng mộ nhất trên thế giới, càng được yêu mến hơn vì cô chỉ là một đứa trẻ. Mục đích đấu tranh của cô là đảm bảo các cô gái Pakistan quyền được tiếp cận với giáo dục, hơn hết là quyền được bảo vệ sức khoẻ và đảm bảo an toàn của trẻ em các nước đang phát triển, quyền của phụ nữ và chống lại chủ nghĩa cực đoan.

Liên Hiệp Quốc sau đó đã triển khai một chiến dịch lớn đấu tranh vì quyền được đi học của nữ sinh trên toàn cầu với tên gọi “I am Malala” (Tôi là Malala), cựu Thủ tướng Anh Gordon Brown đóng vai trò là đặc phái viên. Tổ chức này còn tuyên bố lấy ngày 10 tháng 11 hàng năm là “Ngày Malala” – ngày hành động vì Malala và 50 triệu nữ sinh không được đến trường.

Giải Nobel Hoà Bình 2014 đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của mình khi mạnh mẽ khẳng định rằng vẫn còn đó những niềm hy vọng, vượt qua cái chết và số phận, vượt qua sự sợ hãi và cái ác để mỗi con người đều có thể toả sáng, mang tình yêu thương đến gần nhau hơn.

BOX:

“Tôi không chống ai hết, và tôi cũng không trả thù cá nhân đối với Taliban hay bất kỳ nhóm khủng bố nào. Tôi chỉ muốn lên tiếng về quyền đi học cho mọi đứa trẻ. Tôi muốn sự giáo dục cho chính những đứa con trai, con gái của Taliban và tất cả.” – Malala Yousafzai

BOX:

“Họ có thể bắn vào thân thể tôi, nhưng họ không thể nào bắn chết những ước mơ của tôi”.- Malala Yousafzai

(An Khôi)

Malala 1-1

Malala 2-1

“Thấy đôi dép đó hông? Nó còn ở đó nhưng ổng đi rồi…”. Đó là câu nói ám ảnh tôi khá lâu. Đến tận bây giờ, mỗi khi phải bước vào bệnh viện, tôi đều tự nhiên nhớ tới câu nói đó.

Hôm đó, tôi đại diện mọi người đi thăm ba của đứa bạn đồng nghiệp, đang nằm điều trị ở BV Ung Bứu. Căn phòng hẹp có 6 giường. Hai giường trống nằm sát tường phía trong, giường ông bác nằm gần cửa. Bác bệnh nặng nhưng lạc quan vui vẻ, dí dỏm. Suốt buổi nói chuyện, bác gần như chỉ nói đến đứa con trai mình, niềm tự hào của đời bác. Nó học thế này, nó giỏi thế kia, tính nó thế nọ… Rồi bác “vô tư” kể về căn bệnh của mình, như đùa. Tôi vô phòng này 2 lần rồi, lần này là lần thứ 3, mà con biết phòng này là phòng gì không? là “phòng thị thực đi thăm ông bà”, ai vô đây không quá 3 tuần là về quê luôn, ngon lành. Nói đoạn, bác ấy cười phá lên “sảng khoái”. Đắng ngắt… Bác chỉ cái giường sát góc tường, thấy đôi dép đó hông? nó còn ở đó nhưng ổng đi rồi…,mới hôm trước ngồi ở chỗ này đánh cờ tướng với ổng, ông này ăn gian thấy mẹ, giờ ổng đi đánh cờ với ông bà rồi… ổng u gì hổng nhớ nữa, mà u gì cũng tèo thôi. Bác khoe bác là kỷ lục ở đây rồi, vô lần thứ 3, người hiếm hoi vô phòng này rồi trở ra được, mà còn sống thêm 2 năm, vậy là ngon lành, là xịn nhất “chuồng” rồi! Có lẽ tôi chưa từng thấy ai vui tính như bác, lạc quan như bác, khi ở đây, nằm trong căn phòng “thị thực ông bà” này.

Riêng tôi, gần như không nói được gì, chỉ vài lời thăm hỏi sáo rỗng, vô hồn. Cổ họng tôi nghẹn cứng. Đầu óc quay cuồng ong ong. Vừa khi nãy, bước dọc hành lang vào đây, tôi tưởng mình lạc vào thế giới nào khác, thế giới của những ánh mắt vô hồn, trắng bệnh và trọc lóc… Ám ảnh.

Một tháng sau, bác đi…

Tôi nợ chính mình một dự định, một kế hoạch nói lên nỗi ám ảnh đó, có tràn ngập đôi mắt vô hồn, có cái giường trống hoác và đôi dép vô chủ…

Bên ngoài kia, dòng xe, dòng đời vẫn tấp nập, nhốn nháo thị phi.

Bán hàng rong

Cả con phố bỗng nháo nhào, khu Mongkok này vốn đã luôn náo nhiệt, nhưng quang cảnh xung quanh giờ náo loạn, tan tác, người hô, kẻ chạy, rối bời… Sau tiếng đổ vơ, ông lão ngã ra đường, chiếc xe nhỏ chỏng chơ bên mấy miếng đậu hủ thúi đen thui vương vãi, ông bị phỏng nhẹ, nhăn nhó khá đau. Hai người thanh niên áo xanh nhạt lại gần, người đỡ ông dậy, người dựng lại chiếc xe. Áo xanh nhạt là màu áo của cảnh sát tuần tra đặc khu Hồng Kông, họ cũng là nguyên nhân của sự náo loạn ở khu chợ trời này. Cách đó ba dãy phố, là khu lady market lừng danh cho du khách, còn khu này là chợ trời bán chui, là nơi buôn bán hằm-bà-lằng, tất nhiên là cho đại đa số dân nghèo.

Từng có dịp lang thang nhiều nơi, cảnh buôn bán chợ trời, lấn chiếm hè phố, thức ăn đường phố, có thể nói ở đâu cũng có, từ nước nghèo đến các nước phát triển cũng không ngoại lệ.
Nhưng không có nghĩa đó là cái gì xấu xa, tồi tệ cần dẹp bỏ hay phải đến mức “đấu tranh kiên quyết”, không phải cứ quản lý không được thì cấm.

Chợ trời, ẩm thực đường phố, không gian sinh hoạt vỉa hè, người ta nâng tầm thành sản phẩm du lịch, thành không gian du lịch, thành văn hóa du lịch. Kênh NatGeo còn làm loạt phóng sự hấp dẫn về ẩm thực đường phố khắp thế giới và có cả Việt Nam.

Thật ra để làm được vậy không cần gì to tát, chỉ cần một chút “não” để quy hoạch, để quản lý và trên hết là một chút tấm lòng để biết đối xử với người dân, đặc biệt là dân buôn bán nghèo như một con người một cách lễ độ. Để có “đuổi” thì cũng biết làm người như hai anh cảnh sát HK kể trên.

Vừa rồi, câu chuyện ồn ào đánh, bắt người bán hàng rong ở Bình Thạnh, nói là để lập lại mỹ quan đô thị, nhưng hành động như cồn đồ đó mới đúng là mất mỹ quan, hoặc dễ hiểu hơn phải gọi là MẤT DẠY!.

Bao nhiều người đã lớn lên nhờ những gánh hàng rong? bao nhiêu gia đình sống được nhờ cái vỉa vè? Không phải những “quả đấm” kinh tế mà chính buôn bán nhỏ lẻ mới nuôi sống đại đa số dân nghèo và góp phần không nhỏ cho cái chỉ số GDP mà hàng năm cứ lấp la lấp lánh.

Trong các bộ kinh lớn của Phật giáo Đại thừa, Pháp Hoa được tôn là vua của các kinh với nội dung cởi mở, tiến bộ và phù hợp cho đa dạng tầng lớp để tiếp cận và thực tập. Bát Nhã đầy sức mạnh uyên áo bác học với tính Không. Nhưng có một bộ kinh cô đọng, căn bản và mang ý nghĩa lịch sử thì gần như ít được biết tới, ít được giảng dạy và tụng đọc, thậm chí là ở các thời khóa của các chùa, kinh Đại Bát Niết Bàn!

Bộ kinh về giai đoạn cuối đời của Phật, các lời dạy có thể xem là tâm huyết, tinh túy và cô đọng về sự thực tập, tu học. Bộ kinh còn là tài liệu văn hóa lịch sử quý giá để khảo cứu.

Tôi nghĩ, “Hải đảo tự thân” là một trong những lời dạy cuối cùng quan trọng nhất của Phật. Câu chuyện về những người làm xiếc trèo lên nhau và giữ thăng bằng bằng một thanh tre. Màn biểu diễn đó chỉ có thể thành công khi mỗi người diễn viên đều làm tốt việc tự giữ thăng bằng của mình. Câu chuyện cho ta thấy ý thức tự giữ thăng bằng cho chính mình là một kinh nghiệm trực tiếp và thực tế.

Trong cuộc sống, ta luôn nương tựa vào một ai đó, một niềm tin, một chủ thuyết nào đó….và biết bao điều kiện khác nữa để dựa vào mà mưu cầu hạnh phúc. Tất cả sự chú ý, tất cả tâm ý và sức lực ta đặt và phụ thuộc hoàn toàn vào đó. Nhưng bạn ơi, chắc hẳn bạn biết rõ là mọi thứ đều đang tự nó thay đổi, có khi quá nhanh để kéo ngã mọi xúc cảm và sức lực của bạn.
Sự sống chính nó là một hành động giữ thăng bằng. Chúng ta không thể kiểm soát được sự cân bằng của bất kỳ ai và không bao giờ tác động được hoàn toàn vào những diễn biến nào bên ngoài ta.

Bạn hãy thử, đừng dựa vào một ai, một điều gì hay một vật nào cả. Hãy quay về nương tựa hải đảo tự thân mình với tất cả tâm ý, với chánh niệm tràn đầy soi sáng.

Bạn sẽ hỏi, có ích kỷ lắm không? Không đâu, bạn quay về để nhìn rõ mình, quan tâm hạnh phúc của mình và nuôi lớn tình thương. Mỗi một người với hạnh phúc, và tình thương lớn lao sẽ rải ra khắp nơi những hạt giống đẹp và tạo ra phép màu nhiệm để mang đến hạnh phúc cho bất kỳ ai.

Bạn có thấy không, đó chính là Thiên Đường, là cõi Tịnh Độ, là Niết Bàn mà bạn đang tìm kiếm!

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.