Nhỏ Phương giỏi võ lắm. Mới nghe không ai tin vì nó ốm nhom, nhỏ xíu, tóc quăn, da ngăm ngăm, có nụ cười sún răn xinh xinh. Tôi chơi thân với nó, học cùng trường, nhà cách nhau hai căn, học chung lớp từ thời nhà trẻ mẫu giáo. Mỗi lần chơi trò hoàng tử công chúa thì kiểu gì tui cũng là hoàng tử mà nó là công chúa. Nhưng công chúa… giỏi võ, cưỡi ngựa chở hoàng tử ở đằng sau. Đi chơi với nó ở trường hay trong xóm, lúc nào tôi cũng khoe, nhỏ Phương của tao giỏi võ lắm, nó chặt một cái bể luôn cục gạch ống. Lúc nào cũng khoe câu đó, chứ thật tình chưa thấy nó chặt cục gạch lần nào. Nhưng đã từng thấy ba nó chặt cả đống gạch nát vụn. Ba nó là võ sư.

Ba nó dạy võ buổi tối ở sân trường tiểu học đằng sau chợ gần nhà. Nổi tiếng một vùng.

Những hôm ba nó lên lớp võ, nó luôn ở nhà. Rủ rê thế nào nó cũng không chịu đi đâu, hỏi thế nào nó cũng không nói lý do tại sao. Vừa bực, vừa tò mò. Có lần, khi ba nó vừa đi dạy, lén rình tôi thấy nó ngồi một mình trước sân tỉ mỉ tước những sợi chỉ màu. Tôi chạy lại bên nó gào lên, rủ mày đi chơi không chịu đi, tự nhiên ngồi tước chỉ nhảm nhí chi. Nó ra dấu im lặng, má nó đang ngủ. Thấy mình vô duyên, tôi ngồi phụ nó lựa chỉ.

Sau lần đó mới biết má nó bệnh, ít thấy ra ngoài. Những lúc khoẻ người má nó thường ra sân ngồi thêu. Lúc nào cũng phải có người chăm nom vì bệnh có thể trở nặng bất ngờ. Những lúc ba đi vắng, nó luôn ở nhà trông chừng má.

Hôm đó ngày rằm tháng Bảy, ngày Vu Lan, chiều vừa tắt nắng tôi rủ nó ra chùa. Ngôi chùa nhỏ nhưng đẹp uy nghi nằm bên kia chợ. Ngày Vu Lan sau bữa cơm chay là lễ “Bông hồng cài áo”, đứa nào cũng có bông hoa hồng đỏ trên ngực tung tăng đi “giựt cô hồn” khắp xóm. Trời đổ cơn mưa bất chợt, hai đứa trốn mưa dưới sạp chợ vừa nhai cóc ổi “cô hồn”. Nhỏ Phương kể má nó thêu đẹp lắm, nhưng nó không thích thêu, chỉ thích đánh võ như ba nó, nhưng để má nó vui nó cũng nghe lời học vài mũi chỉ. Vậy mà nó cũng thêu được con bướm trên áo đi học. Tôi phục nó sát đất.

Bất chợ, như nhớ ra điều gì, nó ù chạy trong mưa hướng về nhà, tôi cũng chạy theo. Tối nay ba nó có lớp võ, không ai ở nhà với má nó. Về tới nhà, cửa đóng im ỉm, không khoá. Nó chạy vào buồng ngủ, không có ai, mền gối vương vãi. Căn nhà vắng lặng. Tới tận bây giờ tôi vẫn không quên cảm giác vắng lặng khó chịu kỳ lạ tối hôm đó. Một mảnh giấy nhỏ trên bàn nước ghi lời nhắn của ba nó “má nhập viện, con giữ nhà, đói thì qua nội ăn cơm”.

Đêm đó, má nó mất. Nó khóc như mưa, lần đầu tiên tôi thấy đứa bạn thân của mình khóc, tôi cũng khóc như mưa…

Nhũng ngày sau đó, lúc nào nó cũng mân mê hộp chỉ màu. Nó giữ hộp chỉ màu như báu vật.

Hơn năm sau, gia đình Phương xuất cảnh. Ngày chia tay trăng tròn Trung thu, nó gửi tặng tôi hộp chỉ màu bọc cẩn thận trong túi vải. Trong hộp có hai bông hồng vải, một bông đỏ, một bông thêu đủ màu sặc sỡ.

“Mai mốt ngày Vu Lan, Phương không còn được cài bông đỏ, nhưng cũng không đeo bông trắng đâu, Phương sẽ đeo bông hồng tự thêu đủ màu, vì má không thích màu trắng.”

Đã hơn 25 năm không gặp, hôm nay hẳn người bạn thân đang cài bông hồng sặc sỡ.

Xin tặng một bông hồng đỏ và một bông sặc sỡ cho những đứa con của mẹ. Cho bạn, cho tôi.

Vu Lan 2016.

bong hong sac so

Bà ấy cặm cụi trên bãi biển từ sau phiên chợ sáng, bà không chịu nói tên, chỉ xưng là cô Tư. Cô Tư khá già, bàn tay gầy, da nhăn, nón lá sụp mặt, dáng người khó đoán tuổi. Nhưng dễ đoán cô là người ở vùng biển này, chất giọng đặc trưng vẫn khỏe, sang sảng.

Mặt trời còn tít ngoài xa đổ bóng cô Tư và chiếc rổ nhỏ thành vệt dài trên cát. Bàn tay tỉ mỉ cào từng xới cát, cô Tư cào  chem chép. Chiếc rổ lưng chừng hơn nửa những con chem chép non chỉ hơn lóng tay. “Coi vậy chứ mà ngon lắm, hấp hay xào đều ngon, hôm nay ít chắc để ăn, hôm qua được gần 2 ký bán được hơn hai chục, hồi xưa tui ở Mũi Né cào chút là cả chục ký, bây giờ hiếm, mùa này còn có chút ít chứ vài tháng nữa không còn, ra khơi cào thì có chút đỉnh….”.  Cô Tư đều đều nói mà chẳng bận lòng kẻ lạ mặt có đang lắng nghe.

Hồi trước cô sống ở Mũi Né, phụ ghe ở bãi cá, rồi resort đua nhau vây kín bãi biển, bãi cá co cụm. Những người phụ cá ở bờ như cô cũng chẳng còn nhiều việc ở mỏm đất mũi nhanh chóng đón bắt xu hướng dịch vụ du lịch. Tứ cố vô thân, cô ngược về thành phố Phan Thiết, vẫn nghề cũ phụ ghe ở cảng cá. Nắng lên gắt một chút là hết việc, cô đi dọc bãi Đồi Dương cào kiếm chút chem chép hay vỏ sò đẹp bán cho du khách. Cô nói, cũng có người kêu giúp việc nhà, lương hướng, ăn ở cũng tốt lắm, nhưng ở biển quen rồi, đẻ ra ở biển, lớn lên ở biển, chắc cũng chết ở biển chú ơi, không muốn đi đâu.

Người phụ nữ không gia đình, cả đời ở biển, chỉ cần có biển, với cô biển là thân thích, là lẽ sống.

Cũng dưới bóng nắng, chỉ cách một quãng cát, chàng trai Tây trẻ tuổi ngồi tư lự dưới bóng hàng dương. Anh chàng từ Luân Đôn tới, ở đây gần tháng rồi, bác sĩ tâm lý khuyên anh đến một vùng biển vắng nhiệt đới để trị liệu vì stress. Anh chàng rất trẻ, là chuyên gia tài chính. Công việc hẳn là quá tốt ở trung tâm tài chính như Luân Đôn. Nhưng công việc đó cũng mang lại căn bệnh “kỳ lạ” của một thế giới mà có lẽ cô Tư chỉ cách anh vài bước chân không thể hình dung nổi.  Cũng chẳng rõ vì sao anh chọn bờ biển Phan Thiết này trong vô số bờ biển nhiệt đới. Nhưng rõ là anh đang gắn cảm xúc mình vào biển, vào từng đụn cát nơi này.  Trị liệu stress mới biết không phải chỉ là nghỉ ngơi, chỉ chơi mà không làm gì, anh ta có bài tập vận động, có liệu trình theo thời khóa biểu. Phức tạp! Đã gần một tháng ở biển, không biết “cái stress” của anh có vơi đi chút nào, tôi nghĩ giá mà anh có thể lân la xem, lân la cào chem chép với cô Tư…

Nắng lên cao, gió biển mạnh dần, sóng bạc đầu xoáy mạnh hơn vào bờ cát, người phụ nữ vẫn ngồi tỉ mỉ gỡ từng mảng cát như tìm của báu, chàng trai trẻ vẫn đưa ánh mắt xanh sâu hoắm khoét vào không gian nhằm gỡ từng mảng “stress” như vô định hình trong tâm thức.

Nằm nghe sóng vỗ, sóng nối sóng, không dễ nhận ra biển của mỗi người.

(Phan Thiết tháng 3.2016)

(Bài viết trên tạp chí Người Đẹp tháng 3.2016)

Hôm 15 tháng 2 năm 2016 vừa qua, thế giới đã chứng kiến một huyền thoại mới của làng âm nhạc khi Grammy 2016 trao giải “Album xuất sắc nhất” (Album of the year) cho album “1989” của Taylor Swift. Giải thưởng đã giúp Taylor Swift trở thành người nữ ca sĩ duy nhất hai lần thắng giải Grammy danh giá “Album xuất sắc nhất”. Một thành tựu đáng kinh ngạc và thuyết phục của cô gái trẻ chỉ vừa tròn 26 tuổi.

Tài không đợi tuổi

Taylor Alison Swift sinh ngày 13 tháng 12 năm 1989 tại Reading, bang Pennsylvania, miền Đông nước Mỹ. Tuổi thơ của Taylor Alison Swift êm đềm tại nông trại trồng cây Giáng sinh, nơi miền quê hiền hoà xanh mướt, nơi cô được cha mẹ cho thoả sức vùng vẫy trên lưng ngựa, và được đến trường học từ khá sớm. Cô bé tóc vàng, có đôi mắt lanh lợi lớn lên với âm nhạc bên tai của bà ngoại là một ca sĩ opera chuyên nghiệp. Bố mẹ cô làm việc trong lĩnh vực tài chính nhưng cũng đều là những người yêu âm nhạc. Từ bé Taylor bị quyến rũ bởi những giọng ca nhạc đồng quê nữ huyền thoại như Patsy Cline và Dolly Parton.

Trong một buổi liên hoan, những người bạn đã nói với mẹ của Taylor “cô bé này nên theo đuổi nghiệp hát nhạc đồng quê” khi thấy cô bé say sưa hát những ca khúc của Shania Twain và Faith Hill. Nhớ lại niềm đam mê thuở ấy, cô chia sẻ trên tờ The Guardian (Anh) rằng những bài hát của Shania Twain khiến cô “muốn chạy quanh khu phố 4 vòng và mơ mộng về tất cả mọi thứ”.

Năm lên 9, Taylor xác định rõ niềm yêu thích với nghệ thuật, cô bé tham gia chương trình của Học viện sân khấu Berks Youth và thường xuyên đến Broadway để tham gia lớp luyện giọng và diễn xuất. Thời gian đó, Taylor dành thời gian cuối tuần xin hát tại các hội chợ địa phương, quán cà phê, cuộc thi karaoke, câu lạc bộ làm vườn, họp mặt Hướng đạo sinh và các sự kiện thể thao. Vì yêu thích dòng nhạc đồng quê “ngớ ngẩn” mà Taylor bị bạn bè học trêu chọc là “đứa quái đản”. Nhưng không nản lòng, năm 11 tuổi, sau nhiều lần thất bại cô giành chiến thắng tại cuộc thi tìm kiếm tài năng địa phương và vinh dự được tham gia mở màn cho danh ca Charlie Daniels ở sân khấu Strausstown.

Lời khen ngợi của Charlie Daniels là động lực để Taylor mạnh dạn tìm kiếm cơ hôi ở Nashville, bang Tennessee – quê hương của nhạc đồng quê và cũng là nơi những thần tượng của cô đã thành danh. Mới 11 tuổi, hai mẹ con Taylor rong ruổi gửi những bản demo tự thu giọng hát của cô đến từng hãng đĩa khắp các công ty ở Nashville để tìm kiếm hợp đồng thu âm. Sau khi bị nhiều nơi từ chối, cô nhận ra “mọi người ở đó đều có mục tiêu giống như tôi. Thế nên, tôi tự nhủ rằng tôi cần phải nghĩ ra một hướng đi khác biệt”.

Taylor vốn có năng khiếu thơ văn, cô từng giành chiến thắng tại cuộc thi thơ toàn quốc với bài thơ “Monster in My Closet”. Cô nhanh chóng nhận ra, hướng đi khác biệt tạo nên bước ngoặt chính là tự sáng tác ca khúc. Không lâu sau đó, Tayor nhanh chóng gây chú ý bằng ca khúc tự sáng tác đầu tiên “Lucky You” khi vừa tròn 12 tuổi. Từ đây, cô tập trung sáng tác và tự hát ca khúc của mình. “Hướng đi khác biệt” thiên tài đã phát huy tác dụng, hãng RCA Records quyết định giữ cô trong một thỏa thuận phát triển nghệ sỹ trẻ. Gia đình Taylor quyết định chuyển hẳn về Nashville khi cô 14 tuổi nhằm giúp cô bé chuyên tâm cho phát triển sự nghiệp. Con đường đến với kinh đô nhạc đồng quê Nashville mở toang chào đón một nàng “công chúa nhạc đồng quê” sẽ sớm toả sáng sáng rực rỡ, Taylor Swift.

”Công chúa nhạc đồng quê”

Tại RCA Records, Taylor hợp tác ăn ý với nhà biên tập Liz Rose. Rose chia sẻ “làm việc với Swift là điều dễ dàng nhất tôi từng thực hiện. Tôi chỉ là người biên tập lại cho cô ấy. Cô bé viết về những gì diễn ra ở trường mỗi ngày bằng một góc nhìn trong sáng”. Cô tiếp tục viết nhiều ca khúc, lời bài hát không quá hoa mỹ phù phiếm, mà mộc mạc tự sự về các trải nghiệm cá nhân khi hạnh phúc, khi đau buồn, tức giận hay thất vọng. Mỗi bài hát như dẫn người nghe vào một câu chuyện kể trong thế giới cảm xúc của cô bé một cách tài tình, khéo léo. Viết lời ca khúc là cách để Taylor “sàng lọc” thế giới theo góc nhìn của cô.

Taylor có dịp chia sẻ: “Điều duy nhất giúp tôi vượt qua những khó khăn là viết ca khúc về nó. Tôi có một “câu thần chú”, OK, mình có thể viết một bài hát về điều này sau!. Tôi đã viết ca khúc bất cứ lúc nào tôi cảm thấy đau đớn, từ chối, đau khổ, và tôi đã thấy tốt hơn“.

Danh ca nhạc đồng quê Charlie Daniels nói về cô: “Tôi đánh giá cô ấy rất cao vì nhiều lý do. Cô ấy tự viết ca khúc của riêng mình, viết về những gì mình biết và luôn chân thành, khiêm tốn. Taylor Swift là một nhạc sĩ nhỏ tài năng khiến tôi liên tưởng đến một nhà văn đang cố gắng chiêm nghiệm những biến cố trong cuộc đời từ góc nhìn riêng của cô ấy”.

Ở tuổi 14, Taylor Swift đã trở thành nhạc sĩ trẻ nhất được nhà phát hành Sony/ATV ký hợp đồng chính thức. Khi 15 tuổi, Taylor muốn phát hành ca khúc riêng nhưng RCA Records lại muốn cô phải chờ đến khi 18 tuổi. Nhưng cô cảm thấy đã sẵn sàng cho sự nghiệp của riêng mình và không muốn lãng phí thời gian, Taylor rời RCA, chia tay nhà quản lý Dan Dymtrow để tìm đến một nơi tự do bay cao.

Tại một đêm diễn tại ở Nashville vào năm 2005, Swift thu hút được sự chú ý của nhà sản xuất Scott Borchetta. Ông giám đốc hãng DreamWorks nhận ra cô gái trẻ “thông minh, chăm chỉ, tài năng và nghiêm túc trong công việc” sẽ là một phần quan trọng trong kế hoạch sáng lập một hãng thu âm độc lập Big Machine của ông. Taylor là nghệ sĩ đầu tiên ký kết với hãng. Được hoạt động trong môi trường cho phép thỏa sức sáng tạo, Taylor nhanh chóng gặt hái thành công không lâu sau khi gia nhập Big Machine non trẻ.

Đĩa đơn (single) đầu tiên của Taylor, Tim McGraw, được phát sóng trên đài radio vào mùa hè năm 2006 và ngày 24 tháng 10 năm 2006, album đầu tay mang chính tên cô Taylor Swift được phát hành. Taylor sáng tác tất cả các ca khúc trong album của mình. Các tác phẩm đầu tay của cô đều được giới chuyên môn đánh giá hết sức tích cực, là “cuộc cách mạng trong âm nhạc đồng quê”. Tờ The New York Times mô tả album Taylor Swift là “một kiệt tác nhỏ bé của dòng nhạc đồng quê mang hơi hướng pop, cùng chất giọng rắn chắc và truyền cảm của Swift”.

Album Taylor Swift đạt đến vị trí 19 trên bảng xếp hạng Billboard và bán được 39,000 bản ngay trong tuần đầu tiên. Không lâu sau đã đứng đầu trong Bảng xếp hạng album nhạc đồng quê và thứ  5 tại Billboard 200. Album cũng đứng thứ nhất trong 8 tuần liên tiếp tại Top Album Country và dẫn đầu 24 tuần trên tổng số 91 tuần. Những nghệ sĩ nhạc đồng quê đạt được thành tích đứng đầu số lượng tiêu thụ đĩa trong suốt 20 tuần hoặc nhiều hơn chỉ còn có 2 nghệ sĩ huyền thoại là Dixie Chicks và Carrie Underwood.

Thành công bước đầu của album không đơn thuần là sự tò mò từ giới thu âm về một cô ca sĩ kiêm sáng tác nhạc chỉ mới 16 tuổi, mà Taylor đã xác định rõ mục tiêu bước chân vào một thị trường chưa từng được khai thác trước đây: các cô gái thiếu niên thích nghe nhạc đồng quê! Chỉ cần thành công của một album đầu tay Taylor Swift năm 2006, đã định vị cô là ngôi sao mới không chỉ của làng nhạc đồng quê, mà tỏa sáng trên bầu trời âm nhạc nước Mỹ.

Tiếp nối thành công, năm 2007, cô tiếp tục tung ra hai đĩa đơn “Teardrops on My Guitar” và “Our Song” đạt nhiều thành công vang dội. Trong đó, “Our song” giúp cô trở thành ca sĩ trẻ nhất tự sáng tác và thể hiện một ca khúc đứng đầu bảng xếp hạng Hot Country Songs (những ca khúc nhạc đồng quê ăn khách nhất). Cuối năm 2007, Taylor thắng giải CMA Horizon Award và người trẻ nhất được Hiệp hội nhạc sĩ quốc tế Nashville trao danh hiệu “Nhạc sĩ xuất sắc nhất”.

Những thành công trong năm 2007 làm bệ phóng cho Taylor tạo ra một cột mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp của cô khi phát hành album Fearless tháng 11 năm 2008. Fearless nhanh chóng đạt vị trí số 1 trong bảng xếp hạng hot 200 album của Billboard ngay sau khi vừa ra mắt và trở thành album bán nhanh nhất trong năm 2008 khi bán được 592,304 bản ngay trong tuần đầu tiên. Single mở đầu Love Story ra mắt vào ngày 12 tháng 9 năm 2008, thành công rực rỡ trên cả hai bảng xếp hạng nhạc Pop, lẫn nhạc đồng quê. Trong tuần đầu tiên ra mắt, cô đã bán được hơn 129,000 bản online. Trong suốt 8 tuần sau khi phát hành, Fearless đã được 3,338,467 lượt download, và trở thành album nhạc đồng quê bán chạy nhất trong lịch sử.

Quan trọng hơn, Fearless với những ca khúc đồng quê pha pop (country – pop) gây sốt khắp thế giới Love story, You belong with me… đã mang về cho Taylor 4 giải thưởng Grammy và cô cũng trở thành ca sĩ trẻ nhất trong lịch sử giành giải Grammy danh giá nhất “Album xuất sắc nhất trong năm” (Album of the year).

Từ đây, Taylor Swift được cả thế giới âm nhạc tôn vinh là nàng “Công chúa nhạc đồng quê”

Đơn giản cô ấy là siêu sao

Các chuyên gia Marketing hiện đại cho rằng các ca sĩ trong thời đại Internet ngày nay gần như không thể đạt được “Đĩa bạch kim” (đĩa hát bán được hơn 1 triệu bản) như thế hệ của Michael Jackson, Madonna hay Britney Spears, vì nhạc số hóa trên thiết bị cá nhân đã lấn át đĩa hát truyền thống. Vậy mà, ba album tiếp theo của Taylor: Speak now (2010), Red (2012) và 1989 (2014) đều bán được hơn 1 triệu bản chỉ trong tuần đầu tiên phát hành, đó là chưa kể đến hàng triệu lượt tải online. Taylor cũng là ca sĩ đầu tiên và duy nhất trong lịch sử âm nhạc Mỹ có 3 album lập thành tích này.

Ngày 5 tháng 11 năm 2014, Nielsen Soundscan công bố số liệu chính thức lượng đĩa bán ra của album 1989, vượt ngoài mọi dự đoán, album “bom tấn” này đã được tiêu thụ tới 1,287 triệu bản chỉ trong tuần đầu tiên sau khi phát hành ngày 27 tháng 10 năm 2014. Đây là album có doanh số bán ra cao nhất trong lịch sử âm nhạc thế giới vượt qua album The Eminem Show năm 2002 của Eminem (với số lượng 1,322 triệu bản). Chỉ riêng số lượng tiêu thụ của album này đã chiếm tới 22% lượng đĩa tiêu thụ tại Mỹ trong tuần phát hành.

Thành công này đã giúp Taylor Swift là nghệ sĩ duy nhất giành được Đĩa bạch kim trong năm 2014, và trong thời đại Internet này chắc hẳn sẽ lâu lắm nữa làng âm nhạc thế giới mới lại chứng kiến một đĩa bạch kim tiếp theo. Có thể nói không quá lời, album ‘1989’ là Đĩa bạch kim cuối cùng của mọi thời. Nhìn những sản phẩm của Taylor, có thể thấy cô làm việc đều đặn, nghiêm túc khi album được phát hành cách nhau hai năm và luôn có đủ thời gian để đầu tư chuẩn bị hoàn hảo về mọi mặt.

Ở vai trò nhạc sĩ sáng tác, những bài “hit” vang dội mang lại cho Taylor danh hiệu “nhạc sĩ xuất sắc” của Hiệp hội tác giả Nashville và vinh danh cô ở Songwriters Hall of Fame. Ngoài ra, Taylor còn thử sức với điện ảnh khi tham gia trong nhiều bộ phim như: “Hannah Montana: The Movie” (2009), “Valentine’s Day” (2010), “The Lorax” (2012), “The Giver” (2014). Taylor Swift cũng đã 2 lần tỏa sáng trên sàn diễn Victoria’s Secret với vai trò ca sĩ, trông cô không hề kém cạnh các “thiên thần”.

Năm 2015, Taylor Swift là nhân vật trẻ nhất xuất hiện trong danh sách “100 người phụ nữ quyền lực nhất” của tạp chí Forbes (đứng ở vị trí thứ 64) và có mặt trong danh sách Time 100 (100 người có ảnh hưởng nhất) do tạp chí Time bình chọn.

Theo tỉ lệ Q Score và Davie-Brown Index, Taylor Swift có cấp độ nhận thức cộng đồng (90%) và độ phổ biến (80%) ở mức cao tại Mỹ. Cô tự cho mình có trách nhiệm, ý thức ảnh hưởng đến cộng đồng người hâm mộ trẻ tuổi. Trong hàng loạt danh hiệu, Taylor Swift có một danh hiệu khá đặc biệt: ngôi sao từ thiện. Tổ chức phi lợi nhuận Do Something ghi nhận Taylor ba năm liên tiếp dẫn đầu danh sách những ngôi sao hoạt động từ thiện tích cực nhất.

Năm 2012, Đệ nhất phu nhân Mỹ Michelle Obama trao giải thưởng “Big Help” cho cô vì “những cống hiến hết mình trong việc giúp đỡ người khác và tạo cảm hứng cho mọi người qua những hành động cụ thể”. Nhà hoạt động nhân quyền Kerry Kennedy, Giám đốc Trung tâm Công lý và Nhân quyền Robert F. Kennedy, hết lời khen ngợi: “Còn rất trẻ mà lại tích cực hoạt động xã hội như vậy, Taylor đúng là hình mẫu mà chúng ta muốn con cái của mình noi gương”.

Qua hơn 10 năm hoạt động sáng tác và biểu diễn, Taylor Swift đến với người hâm mộ âm nhạc trên toàn thế giới như một cô gái tài năng, thông minh, bản lĩnh, giàu lòng nhân ái, và quan trọng nhất là luôn giữ được một vẻ đẹp thân thiện ngọt ngào, trong sáng toàn diện. Đó là những phẩm chất của một ngôi sao đích thực.

Nói đến Taylor Swift, đơn giản cô ấy là Siêu Sao!

BOX:

  1. Ở tuổi 26, thành tựu của Taylor Swift bao gồm 10 giải Grammy, 1 giải Emmy, 22 giải thưởng Âm nhạc Billboard, 11 giải Country Music Association Awards, 8 giải Academy of Country Music Awards, và 1 giải Brit. Cô là một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất mọi thời đại, với hơn 40 triệu album, bao gồm 27.1 triệu bản tại Mỹ, và 130 triệu đĩa đơn kỹ thuật số.
  2. “Mọi người không phải lúc nào cũng bên cạnh tôi khi cần, nhưng âm nhạc thì luôn luôn.”
  3. “Với tư cách là nữ ca sĩ đầu tiên thắng giải Album xuất sắc nhất hai lần, tôi muốn nói với tất cả các bạn gái trẻ ngoài kia rằng, trên con đường bạn đi sẽ có những người cố gắng hạ thấp sự thành công của bạn; hoặc nhận rằng họ có công đối với những thành tựu hay danh tiếng của bạn. Nếu bạn tập trung vào công việc, không để họ làm phân tâm, một ngày nào đó, bạn sẽ đến đích. Bạn sẽ nhìn xung quanh và biết rằng, chính bạn và những người yêu thương bạn đã giúp bạn ở vị trí đó. Đó sẽ là cảm xúc tuyệt vời nhất trên thế giới” – Taylor phát biểu đầy mạnh mẽ khi nhận giải Grammy hôm 15/2/2016

IMG_20160318_094040_165IMG_20160318_094017_213

 

Noel 2015 (19.12)

Vài hình ảnh tại BV Ung Bướu ngày 19.12 và chuẩn bị quà

This slideshow requires JavaScript.

Noel 2015 (25.12)

Một số hình ảnh tại Trung tâm truyền máu – huyết học và Bệnh viện ĐH Y Dược ngày 25.12.2015

This slideshow requires JavaScript.

(Bài viết trên tạp chí Người Đẹp, tháng 12.2015, An Khôi)

Năm 2014, lễ trao giải Oscar thu hút đến 43,7 triệu khán giả Mỹ theo dõi qua truyền hình và đạt tỉ lệ người xem cao nhất trong vòng một thập kỷ. Ngoài ra, buổi lễ còn tạo nên một đợt sóng phá vỡ mọi kỷ lục chia sẻ ảnh trên mạng xã hội Twitter, “bức ảnh selfie của thế kỷ” được chia sẻ hơn 1 triệu lượt chỉ trong vòng một giờ sau khi đăng tải. Sức hút của người dẫn chương trình hôm đó đã góp phần lớn làm nên thành công về mặt truyền thông của Oscar 2014, cô ấy là Ellen Degeneres.

Phải nhìn niềm vui sướng tột độ của các nhân vật được trở thành khách mời của Ellen Show mới thấy rõ được sức ảnh hưởng và tình yêu mến của người hâm mộ dành cho Ellen.

Hài hước để mẹ cười vui

Ngày nay, khán giả hâm mộ truyền hình dễ dàng biết đến hình ảnh M.C. Ellen Degeneres luôn gắn liền với nụ cười tươi sáng trên môi, phong cách nhẹ nhàng, hoạt bát và đầy bản lĩnh trên sân khấu. Người ta vẫn gọi cô bằng mỹ danh “nữ hoàng truyền hình Mỹ” nhưng ít ai biết “nữ hoàng” đã phải vượt qua biết bao sóng gió từ thuở còn thơ.

Ellen sinh năm 1958 tại New Orleans, Louisiana, Mỹ, trong gia đình không có truyền thống nghệ thuật. Khi mới 13 tuổi, bố mẹ chia tay, cô phải đau buồn chứng kiến mẹ bị suy sụp tinh thần. Khi đó, Ellen nghĩ rằng cách duy nhất để giúp mẹ là làm cho bà cười. Lần đầu tiên, cô bé nhỏ Ellen nhận ra những câu chuyện vui có sức mạnh lớn thế nào, bà mẹ vui cười sảng khoái cùng với những mẩu chuyện hài hước của cô gái nhỏ. Trải nghiệm đó đã giúp cho Ellen luôn biết cách giữ sự hài hước, dí dỏm cả trong công việc và có tình yêu đặc biệt với nghệ thuật hài độc thoại mà cô theo đuổi sau này.

Không lâu sau, Ellen theo mẹ đến Texas, mong muốn tìm một cơ hội sinh sống mới và quên đi quá khứ. Tại đây, mẹ cô đi bước nữa với một người đàn ông trung niên, dù cô bé không hề thích. Năm Ellen 16 tuổi, mẹ cô phải chiến đấu với căn bệnh ung thư vú và bị cắt bỏ một bên ngực. Cùng thời gian này, cô bị cha dượng giở trò quấy rối và lạm dụng. Cô giữ kín, chịu đựng một mình, không dám nói với mẹ vì sợ bà sẽ sụp đổ vì cơn bạo bệnh.

Sau này, Ellen có dịp tâm sự với nhà báo kỳ cựu Barbara Walters: “ông ta có lần còn định phá tung cửa phòng ngủ của tôi. Tôi đã phải đá tung cửa sổ để chạy trốn và ngủ cả đêm trên sàn nhà một bệnh viện trong thị trấn. Nhưng, tôi chẳng thể nói với mọi người tại sao tôi lại ở đó. Mẹ tôi vẫn ở với ông ấy và không tin lời tôi, bởi ông ta luôn nói dối hết kiểu này đến kiểu khác. Ông ta là một người đàn ông thật tồi tệ”.

Mãi đến khi tốt nghiệp trung học, Ellen mới cho mẹ biết sự thật. Sau này, bà Betty luôn luôn là chỗ dựa cho con gái vượt những sóng gió của cuộc đời.

Đau đớn tình đầu

Ở tuổi 22 tuổi, sau những sóng gió tuổi thơ, Ellen gặp và đem lòng yêu chàng thi sĩ Kathy Perkoff. Hai người trẻ nhanh chóng nảy nở tình cảm, yêu nhau say đắm. Tuy nhiên, hạnh phúc không kéo dài được bao lâu thì Perkoff đột ngột tử nạn trong một vụ tai nạn xe hơi.

Đau buồn khi người yêu thương vĩnh viễn mất đi, Ellen bỏ học tại Đại học New Orlean đi làm công việc văn phòng tại một công ty luật. Cuộc đời Ellen đã rẽ sang hướng khác, cô đã phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Ít ai biết rằng “nữ hoàng truyền hình Mỹ” đã từng làm bồi bàn, nhân viên bán hàng ở trung tâm thương mại, làm họa sĩ, pha chế rượu ở quán bar…

Rồi như một cơ duyên, trong một lần, Ellen phải thực hiện công việc thuyết trình trước đám đông đã đưa đẩy cô tình cờ tìm đến với nghiệp diễn. Ellen chia sẻ: “Tôi đã từng rất sợ xuất hiện trước chốn đông người. Nói chuyện trước đám đông với tôi chẳng khác nào cực hình. Giọng tôi cứ líu lại và chân run lên như muốn bỏ chạy. Có lẽ do tôi mang mặc cảm về cuộc sống của mình”. Tuy nhiên, vượt qua được nỗi sợ ban đầu, cô vận dụng tính hài hước vốn có của mình để truyền cảm hứng tới người nghe. Thật ngạc nhiên là cô đã gây bất ngờ và sau đó nhận được lời đề nghị góp mặt trong các chương trình hài kịch.

Từ khởi đầu đến sự nghiệp diễn hài đỉnh cao

Được khích lệ và ủng hộ của gia đình, Ellen bắt đầu biểu diễn từ năm 1980. Với niềm đam mê hài và thích làm cho mọi người cười vui, Ellen bắt đầu diễn những vở hài kịch độc thoại tại các câu lạc bộ, quán cà phê địa phương. Ellen đi diễn khắp nơi và thâm nhập sâu hơn vào diễn xuất hài. Vài năm sau cô đã lưu diễn trên toàn nước Mỹ và có được danh hiệu đầu tiên là “Người vui tính nhất nước Mỹ” do kênh truyền hình Showtime bình chọn.

Sau lần vinh danh, năm 1986 cô trở thành diễn viên hài đầu tiên được làm khách mời trong chương trình nổi tiếng The Tonight Show của diễn viên Johnny Carson. Khả năng diễn xuất và làm chủ sân khấu của Ellen đã khiến tất cả mọi người có mặt trong đêm diễn đều bị cuốn theo lối dẫn chương trình gần gũi, sinh động, linh hoạt và hài hước của Ellen. Sau buổi này, cô gái trẻ đã được mời vào chương trình “The tonight show” và vinh dự trở thành nữ diễn viên kịch duy nhất được xuất hiện trên ghế nóng ngay trong lần ghi hình đầu tiên. Cũng từ đây, sự nghiệp của cô rẽ sang lĩnh vực truyền hình.

Ban đầu, Ellen nuôi mộng trở thành diễn viên nhưng dường như cô không có duyên với nghiệp diễn, các vai phụ trong vở hài kịch của “Open House” (1989) và “Laurie Hill” (1992) không thực sự thành công.

Thay vào đó, Ellen đã toả sáng trong các chương trình truyền hình do cô dẫn. Thành công của “These Friends of Mine” (1994) trên kênh truyền hình ABC lớn đến mức, ngay sau số phát sóng đầu tiên đã được đổi tên thành “Ellen”, khẳng định ngay dấu ấn tài năng của Ellen.

Dũng cảm công khai giới tính

Sự nghiệp truyền hình đang trên đà phát triển rực rỡ với chương tình “Ellen” thì một ngày tháng 4 năm 1997, Ellen công khai thừa nhận mình là người đồng tính trên sóng truyền hình. Lần đầu tiên trong lịch sử các show truyền hình dài tập có chuyện như thế. Tuyên bố của Ellen ngay lập tức gây chấn động dư luận.

Ellen không sinh ra trong nhung lụa mà tiến đến thành công sau chặng đường đầy chông gai. Cô tự mình vươn lên mạnh mẽ, chịu đựng bạo lực và lạm dụng. Giờ đây, mọi thành công có được có thể vỡ vụn vì sự “tự thú” này. Thậm chí, khi quyết định công khai trên truyền hình, Ellen vẫn không giấu được sự run rẩy. Dù vậy cô vẫn thể hiện niềm tinvững chắc và tự hào với quyết định của mình: “Vâng, tôi đồng tính”.

Ellen từng nói với tờ Time rằng: “Tôi không việc gì phải sợ hãi”. Cô cho rằng chẳng có gì đáng ngại khi bộc lộ sự thật về chính con người mình. Ellen chia sẻ: “Tôi luôn nghĩ rằng mình có thể phân biệt cuộc sống riêng tư với công việc. Tôi đã từng né tránh câu hỏi đó nhiều nhất có thể nhưng bây giờ tôi cảm thấy hoàn toàn thoải mái với bản thân. Và tôi chẳng việc gì phải sợ một cái gì đó sẽ phá hủy sự nghiệp của tôi vì tôi hoàn toàn chủ động“.

Trong một cuộc phỏng vấn khác Ellen tâm sự: “Khi tôi quyết định lấy chủ đề người đồng tính cho chương trình của mình, tôi biết rõ rằng mình cũng sẽ phải ra mặt. Tôi chưa bao giờ mong đợi mình là một diễn viên đồng tính. Ở thời điểm hiện tại, tôi chưa nghĩ đến việc mình sẽ trở thành một người đại diện cho cộng đồng người của thế giới thứ ba. Tôi làm điều này chỉ vì muốn nói lên sự thật về riêng tôi mà thôi“.

Một số tập trong chương trình sau đó vẫn tiếp tục lật giở các vấn đề xoay quanh chủ đề người đồng tính. Trong những số còn lại, Ellen và Ban lãnh đạo của Hãng truyền hình ABC đã có tranh luận nảy lửa. Vài chi nhánh của Hãng ABC đã từ chối không công chiếu các chương trình của Ellen. Lo ngại phản ứng của dư luận, nhiều nhà tài trợ đã lần lượt rút lui.

Năm 1998, chương trình Ellen hoàn toàn bị huỷ bỏ, bất chấp giải Emmy đoạt được cùng năm và thực tế chương trình vẫn nhận được sự ủng hộ nhiệt thành của các nhà hoạt động vì giới tính thứ ba, bao gồm cả bà Betty mẹ của Ellen.

Trở lại đỉnh cao bằng tài năng “mê hoặc” khán giả

Kể từ sự cố đau đớn đó, hàng loạt chương trình khác của Ellen bị hủy bỏ khiến cô rơi vào trạng thái trầm cảm trong hơn 3 năm. Sự nghiệp của cô dường như rơi tự do. Trong thời gian đó, Ellen thử sức với điện ảnh và phim truyền hình, cô tham gia EdTV (1999), If These Walls Could Talk 2(2000), nhưng không thành công.

Không nản chí, bằng nỗ lực và tinh thần, Ellen quyết đứng lên và hồi phục. Bước ngoặt đánh dấu sự trở lại của Ellen là thành công vang dội của bộ phim hoạt hình Finding Nemo, với vai lồng tiếng cho Dory. Thành công đó giúp cho Ellen tự tin từng bước lấy lại niềm tin của khán giả qua các chương trình truyền hình.

Năm 2003, Ellne chính thức khẳng định sự xuất hiện trở lại như một ngôi sao truyền hình với talkshow “The Ellen DeGeneres Show” được phát sóng vào ban ngày, với sức thu hút lớn và giá trị thương mại cao. Không chỉ vậy, chương trình còn bất ngờ nhận được nhiều danh hiệu danh hiệu, đáng kể có giải thưởng Emmy lần thứ 15 sau 3 mùa phát sóng, trở thành chương trình đầu tiên trong lịch sử truyền hình nhận được giải thưởng danh giá chỉ sau một thời lượng phát sóng ngắn ngủi đến như vậy.

Ellen đã trở lại và lập tức đứng đầu ngay trong các bảng xếp hạng các chương trình truyền hình ăn khách nhất nước Mỹ và các danh hiệu cá nhân, đáng kể nhất là 13 giải Daytime Emmy, các bình chọn Nữ nghệ sĩ hài hước nhất, Dẫn chương trình được yêu thích nhất…

Cùng với talkshow của mình, Ellen trở thành MC và diễn viên hài quyền lực nhất tại Mỹ, truyền cảm hứng và hình mẫu tuyệt vời cho cộng đồng giới tính thứ ba (LBGT).

Năm 2008, Ellen quyết định kết hôn với diễn viên đồng tính Portia de Rossi sau gần 4 năm hẹn hò. Hiện nay, họ đang có cuộc sống hạnh phúc, trân trọng nhau tại California (Mỹ).

Box1:

Ellen Lee DeGeneres xếp thứ 47 trong số 100 người phụ nữ quyền lực nhất hành tinh, và thứ 34 trong danh dách 100 nghệ sĩ nổi tiếng thế giới (theo bình chọn của tạp chí Forbes). Talkshow Ellen đến nay đã trải qua 12 mùa công chiếu và thu hút khoảng 3 triệu người theo dõi mỗi tập. Ngoài ra, năm 2012 Ellen còn vinh dự nhận được giải thưởng Mark Twain cho nghệ sĩ hài nước Mỹ do trung tâm John F. KenNedy trao tặng.

Box2:

Luôn làm điều mình thích và nói theo cách của mình. Không bao giờ đi theo con đường của người khác trừ phi bạn bị lạc trong rừng. Hãy nhớ rằng cuộc sống này là của chính các bạn, và trong khi tất cả những người khác có quyền sống theo ý của họ, thì chúng ta không nên tự ý áp đặt quyết định cá nhân vào ý kiến của một ai khác.

Box3

Điều gây tổn thương cho ta nhiều nhất, sẽ dạy ta bài học lớn nhất. Trái ngược với thành công không phải là thất bại, mà là kinh nghiệm. Chỉ khi nào ta bỏ cuộc thì khi đó mới có thất bại.

IMG_20151209_144423_391

 

1, Get job list and schedules

USE msdb
Go

SELECT dbo.sysjobs.Name AS ‘Job Name’,
‘Job Enabled’ = CASE dbo.sysjobs.Enabled
WHEN 1 THEN ‘Yes’
WHEN 0 THEN ‘No’
END,
‘Frequency’ = CASE dbo.sysschedules.freq_type
WHEN 1 THEN ‘Once’
WHEN 4 THEN ‘Daily’
WHEN 8 THEN ‘Weekly’
WHEN 16 THEN ‘Monthly’
WHEN 32 THEN ‘Monthly relative’
WHEN 64 THEN ‘When SQLServer Agent starts’
END,
‘Start Date’ = CASE active_start_date
WHEN 0 THEN null
ELSE
substring(convert(varchar(15),active_start_date),1,4) + ‘/’ +
substring(convert(varchar(15),active_start_date),5,2) + ‘/’ +
substring(convert(varchar(15),active_start_date),7,2)
END,
‘Start Time’ = CASE len(active_start_time)
WHEN 1 THEN cast(’00:00:0′ + right(active_start_time,2) as char(8))
WHEN 2 THEN cast(’00:00:’ + right(active_start_time,2) as char(8))
WHEN 3 THEN cast(’00:0′
+ Left(right(active_start_time,3),1)
+’:’ + right(active_start_time,2) as char (8))
WHEN 4 THEN cast(’00:’
+ Left(right(active_start_time,4),2)
+’:’ + right(active_start_time,2) as char (8))
WHEN 5 THEN cast(‘0′
+ Left(right(active_start_time,5),1)
+’:’ + Left(right(active_start_time,4),2)
+’:’ + right(active_start_time,2) as char (8))
WHEN 6 THEN cast(Left(right(active_start_time,6),2)
+’:’ + Left(right(active_start_time,4),2)
+’:’ + right(active_start_time,2) as char (8))
END,
— active_start_time as ‘Start Time’,
CASE len(run_duration)
WHEN 1 THEN cast(’00:00:0′
+ cast(run_duration as char) as char (8))
WHEN 2 THEN cast(’00:00:’
+ cast(run_duration as char) as char (8))
WHEN 3 THEN cast(’00:0′
+ Left(right(run_duration,3),1)
+’:’ + right(run_duration,2) as char (8))
WHEN 4 THEN cast(’00:’
+ Left(right(run_duration,4),2)
+’:’ + right(run_duration,2) as char (8))
WHEN 5 THEN cast(‘0′
+ Left(right(run_duration,5),1)
+’:’ + Left(right(run_duration,4),2)
+’:’ + right(run_duration,2) as char (8))
WHEN 6 THEN cast(Left(right(run_duration,6),2)
+’:’ + Left(right(run_duration,4),2)
+’:’ + right(run_duration,2) as char (8))
END as ‘Max Duration’,
CASE(dbo.sysschedules.freq_subday_interval)
WHEN 0 THEN ‘Once’
ELSE cast(‘Every ‘
+ right(dbo.sysschedules.freq_subday_interval,2)
+ ‘ ‘
+ CASE(dbo.sysschedules.freq_subday_type)
WHEN 1 THEN ‘Once’
WHEN 4 THEN ‘Minutes’
WHEN 8 THEN ‘Hours’
END as char(16))
END as ‘Subday Frequency’
FROM dbo.sysjobs
LEFT OUTER JOIN dbo.sysjobschedules
ON dbo.sysjobs.job_id = dbo.sysjobschedules.job_id
INNER JOIN dbo.sysschedules ON dbo.sysjobschedules.schedule_id = dbo.sysschedules.schedule_id
LEFT OUTER JOIN (SELECT job_id, max(run_duration) AS run_duration
FROM dbo.sysjobhistory
GROUP BY job_id) Q1
ON dbo.sysjobs.job_id = Q1.job_id
WHERE Next_run_time = 0

UNION

SELECT dbo.sysjobs.Name AS ‘Job Name’,
‘Job Enabled’ = CASE dbo.sysjobs.Enabled
WHEN 1 THEN ‘Yes’
WHEN 0 THEN ‘No’
END,
‘Frequency’ = CASE dbo.sysschedules.freq_type
WHEN 1 THEN ‘Once’
WHEN 4 THEN ‘Daily’
WHEN 8 THEN ‘Weekly’
WHEN 16 THEN ‘Monthly’
WHEN 32 THEN ‘Monthly relative’
WHEN 64 THEN ‘When SQLServer Agent starts’
END,
‘Start Date’ = CASE next_run_date
WHEN 0 THEN null
ELSE
substring(convert(varchar(15),next_run_date),1,4) + ‘/’ +
substring(convert(varchar(15),next_run_date),5,2) + ‘/’ +
substring(convert(varchar(15),next_run_date),7,2)
END,
‘Start Time’ = CASE len(next_run_time)
WHEN 1 THEN cast(’00:00:0′ + right(next_run_time,2) as char(8))
WHEN 2 THEN cast(’00:00:’ + right(next_run_time,2) as char(8))
WHEN 3 THEN cast(’00:0′
+ Left(right(next_run_time,3),1)
+’:’ + right(next_run_time,2) as char (8))
WHEN 4 THEN cast(’00:’
+ Left(right(next_run_time,4),2)
+’:’ + right(next_run_time,2) as char (8))
WHEN 5 THEN cast(‘0′ + Left(right(next_run_time,5),1)
+’:’ + Left(right(next_run_time,4),2)
+’:’ + right(next_run_time,2) as char (8))
WHEN 6 THEN cast(Left(right(next_run_time,6),2)
+’:’ + Left(right(next_run_time,4),2)
+’:’ + right(next_run_time,2) as char (8))
END,
— next_run_time as ‘Start Time’,
CASE len(run_duration)
WHEN 1 THEN cast(’00:00:0′
+ cast(run_duration as char) as char (8))
WHEN 2 THEN cast(’00:00:’
+ cast(run_duration as char) as char (8))
WHEN 3 THEN cast(’00:0′
+ Left(right(run_duration,3),1)
+’:’ + right(run_duration,2) as char (8))
WHEN 4 THEN cast(’00:’
+ Left(right(run_duration,4),2)
+’:’ + right(run_duration,2) as char (8))
WHEN 5 THEN cast(‘0′
+ Left(right(run_duration,5),1)
+’:’ + Left(right(run_duration,4),2)
+’:’ + right(run_duration,2) as char (8))
WHEN 6 THEN cast(Left(right(run_duration,6),2)
+’:’ + Left(right(run_duration,4),2)
+’:’ + right(run_duration,2) as char (8))
END as ‘Max Duration’,
CASE(dbo.sysschedules.freq_subday_interval)
WHEN 0 THEN ‘Once’
ELSE cast(‘Every ‘
+ right(dbo.sysschedules.freq_subday_interval,2)
+ ‘ ‘
+ CASE(dbo.sysschedules.freq_subday_type)
WHEN 1 THEN ‘Once’
WHEN 4 THEN ‘Minutes’
WHEN 8 THEN ‘Hours’
END as char(16))
END as ‘Subday Frequency’

FROM dbo.sysjobs
LEFT OUTER JOIN dbo.sysjobschedules ON dbo.sysjobs.job_id = dbo.sysjobschedules.job_id
INNER JOIN dbo.sysschedules ON dbo.sysjobschedules.schedule_id = dbo.sysschedules.schedule_id
LEFT OUTER JOIN (SELECT job_id, max(run_duration) AS run_duration
FROM dbo.sysjobhistory
GROUP BY job_id) Q1
ON dbo.sysjobs.job_id = Q1.job_id
WHERE Next_run_time <> 0

ORDER BY [Start Date],[Start Time]

2. get job list and scipts

SELECT
–job.job_id,
–notify_level_email,
name,
enabled,
description,
step_name,
command,
–server,
database_name
FROM
msdb.dbo.sysjobs job
INNER JOIN
msdb.dbo.sysjobsteps steps
ON
job.job_id = steps.job_id

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.