(Viết cho con – một ngày lặng ở Bảo Lộc 2/5/2015)

Bắp Cải từng nói, con thích núi, con không thích biển. Mẹ cũng thế. Với mẹ, núi hiền lành hơn biển, núi có cỏ cây hoa lá, và hơn hết là núi có ký ức tuổi thơ của mẹ.

Đường lên Bảo Lộc thật đẹp, núi đồi trập trùng vây quanh. Ba hỏi Bắp Cải, con có thấy mây bay ngay trên đỉnh núi? Mây hòa vào núi. Qua cửa xe, Bắp Cải ngắm thích thú và như có phát hiện mới, con reo lên, mây là tên bé Mây đó.

Nhà mình đi chơi cùng với nhà chị Nghé. Hẹn một đêm nghỉ ở chùa Di Đà. Đường lên chùa rất đẹp, xung quanh là những đồi chè và cà phê xanh ngát. Có đoạn đường đất đá, lên dốc nhấp nhô và quanh co rất khó đi, nhưng cũng là cơ hội để trải nghiệm cảm giác “phượt” chút đỉnh.

1. Một chiều hoa sim tím

Chùa Di Đà nằm trên một ngọn đồi và được chăm chút tươm tất. Ấn tượng đầu tiên của mẹ khi vừa tới cổng là những bụi hoa sim tím. Những bụi sim thật to, đầy hoa và trái, được trồng dọc lối đi. Cây hoa mua tím ngắt cũng được trồng làm kiểng. Mẹ tìm hái cho Bắp Cải một trái sim chín, Bắp Cải chỉ cầm chơi không dám ăn, còn ba thì bảo không ngon, nhưng với mẹ, nó là thứ trái ngon lành tuổi thơ.  Ấn tượng đầu tiên của Bắp Cải là khoảng sân cỏ rộng và mát mẻ ngay phía trước. Bắp Cải mê đá banh lắm, đi đâu cũng đem sẵn trái banh. Hai cha con tranh thủ chơi liền, mẹ và Mây loanh quanh mấy bụi sim tím và hoa lá cành trong chùa.

2. Ánh trăng thượng huyền

Trời chiều mát dịu, không khí rất tươi mát và trong lành. Trời vào sẫm tối mà không có cảm giác nặng trĩu như thường ngày. Đêm ấy có trăng, ánh trăng thượng huyền. Trăng và sương lạnh. Lặng mà không cô tịch. Trời càng khuya thì sương càng dày. Chẳng biết giọt sương đọng trên lá hay là giọt mưa li ti?

Bữa tối ở chùa khá thịnh soạn, được ăn và trò chuyện cùng Sư Thầy. Đêm được ngủ êm ấm trên nhà sàn. Lần đầu tiên bọn trẻ được ngủ trên nhà sàn xinh xinh, phía trước có giàn hoa giấy rực rỡ. Đêm mát lạnh, nghe cả hơi sương.

Từ rất sớm, mẹ được đánh thức bởi hồi chuông ngân nga êm dịu, nghe như tiếng chuông của thầy Nhất Hạnh trong những bài pháp thoại. Sáng ra trò chuyện với Sư Thầy, mới biết Thầy từng ở tu viện Bát Nhã và từng tu học ở Làng Mai (Pháp).

3. Những em bé nhỏ và đường ra suối.

Quanh quẩn trong khuôn viên chùa có gần chục bạn nhỏ. Dù trai hay gái, tóc đứa nào cũng dài loe ngoe, áo quần dính đầy đất đỏ, đen nhẻm đen nhem. Các bạn nhỏ xíu, dễ thương, hiền lành như cọng cỏ, lại hay mỉm cười bẽn lẽn. Bọn trẻ khư khư kẹp nách cái chai nhựa đựng thành quả lao động của mình, là những trái sim chín.

Một chị gái học lớp 5, mà như em bé chừng 5 tuổi, nhỏ nhẹ hỏi mẹ bằng giọng dân tộc lơ lớ, cô có muốn tụi con dẫn ra suối không? Đi chứ. Bọn chúng vui vẻ đi trước, nhà mình và nhà chị Nghé theo sau. Đã sắp tối nên cổng ra suối bị khóa, mà bọn trẻ vẫn cứ đi tới. Mọi người chưa kịp hiểu thì bọn chúng đã luồn người trườn qua gọn lẹ dưới cánh cổng đang khóa! Với bọn trẻ, cánh cổng như không bao giờ đóng. Nhà chúng ở trong buôn gần đây, chúng đến chùa chơi, hái sim, hái mận, hái quýt, ra suối. Hòa thuận, vui vẻ và trật tự, chẳng thấy cãi nhau hay tranh giành nhau thứ gì.

4. Tuổi thọ của con gà là bao nhiêu?

Trong sân chùa Di Đà có khoảng 4, 5 con gà bự chảng. Bự nhất mà mẹ từng thấy. Thấy con gà to quá nên tự dưng mọi người đặt câu hỏi, tuổi thọ của con gà là bao nhiêu? Từ xưa giờ có thấy con gà nào chết vì già đâu.

Thầy bảo nó đã 5 tuổi. Thế Thầy có biết một con gà già thì nó thể hiện như thế nào không? Thầy bảo chưa biết, Thầy đang quan sát :)

Thế bạn có biết tuổi thọ của con gà là bao nhiêu không? Một số người cho rằng tuổi thọ của gà là 3 đến 4 năm, không đúng đâu nhe. Muốn biết, hãy nuôi một con gà và chăm sóc nó như nuôi một con chó!

Trong chùa còn có rất nhiều chó và mèo, bọn nào cũng ăn chay mà mập tròn, khỏe mạnh và rất hiền. Nó cứ lân la làm quen với mẹ đó, con thấy không?

Nhà mình không có nhiều thời gian ở đây, nhưng những thứ còn đọng lại trong lòng thì nhiều vô kể. Bắp Cải được nhìn thấy nhiều thứ mới mẻ, biết hoa sim hoa mua của mẹ (chắc chắn chẳng ấn tượng chi mấy), được đi ra suối và ngắm thác nước, được ngắm con gà to, biết được trái café, cây trà, được nhìn phóng xa tầm mắt… và được đá banh trên cỏ thỏa thích, đến giờ ăn phụng phịu mãi chẳng chịu vào.

Tạm biệt chùa, tạm biệt Sư Thầy, tạm biệt một ngày lặng mà nhiều niềm vui ở Bảo Lộc.

Bap Cai da banh

IMAG2443_2

Tuổi này của con đứa nào cũng dễ thương, mà có lẽ, với cha mẹ thì con cái của mình ở tuổi nào cũng dễ thương và bé nhỏ.

Mây của mẹ đã biết nói chuyện rất rõ ràng, phát âm chuẩn, biết hát vài bài ngắn ngắn với cái giọng Sài gòn rất dễ thương. Mây thường gọi má ơi má à, (cho) bú thèm đi má, hay nói từng lời rành rọt má-ơi má-đang-làm-gì-đó, ba-ơi-ba-đang-làm-gì-đó? Bé Mây thích tự mình mang giày, cởi giày, tự chọn áo… và thể hiện tính độc lập hơn anh trai ở cùng tuổi. Mây hay nói để-con-làm-cho. Dạo này con thường theo ba mẹ đưa anh trai đến trường, có khi con thập thò trước lớp anh, có khi mạnh dạn đi vào và chào cô giáo, mắt thì liếc liếc nhìn thèm thuồng cái không khí vui nhộn trong kia.

Mây rất thương anh Bắp Cải. Bắp Cải nói gì thì em gái nói y chang như thế. Bắp Cải chơi những trò điên cuồng khiến người lớn nhức nhối thì vẫn luôn có đứa em gái ủng hộ và cười theo ngặt nghẽo. Ấy là những lúc cùng nhau một phe, chứ đến khi thành hai phe thì mẹ muốn bỏ chạy luôn, chẳng biết phân xử thế nào. Mây còn nhỏ nhưng cũng không chịu thua, cũng la cũng hét, cũng giơ tay đòi đánh, ghê lắm nhe. Bắp Cải thuộc làu làu bài “Làm anh”, chứ mấy khi nhường em đâu. Nhưng mà vui, nhìn hai đứa trẻ bày ra trò này trọ nọ để chơi, líu lo ríu rít, dễ thương lắm.

Cuối tuần rồi ba mẹ đưa con đi sở thú. Hai đứa nhỏ đi sở thú mà chẳng hứng thú lắm với mấy con thú, Bắp Cải lấy máy hình chụp choẹt một bụi bông, được ba khen đẹp lắm mà chẳng thèm chụp nữa, đòi chuyển sang khu trò chơi. Cái sở thú một thành phố lớn như Sài Gòn mà khu trò chơi thiệt tệ, cũ kỹ, xanh xanh đỏ đỏ, vậy mà bọn trẻ cũng thích (thèm vì mẹ ít cho chơi ở mấy khu này lắm, sợ bệnh, thường thấy những khu public như vậy rất đông người chơi mà không bao giờ thấy được vệ sinh cả). Hồi nhỏ Bắp Cải chơi ở khu vui chơi một lần, đúng tuần sau bị bệnh tay chân miệng thấy thương.

Bắp Cải có nhớ là mẹ hay bảo mẹ đang nhức đầu, đừng làm phiền mẹ không. Mẹ đã trải qua một mùa nắng với cái đầu đau nhức, có khi đau nhiều, đau ít. Mà chẳng hiểu sao, lẽ ra ở tuổi này, mẹ phải khỏe lắm đây. Có thể do môi trường sống nắng nóng và khói bụi, hay mệt mỏi vì đang có con nhỏ? Thường ngày ông bà nội đã giúp giữ con để mẹ đi làm, nên cũng không thể nói là mệt mỏi vì con được. Mẹ cũng không thức khuya, giấc ngủ cũng không chập chờn, vậy mà ngày hôm sau vẫn thấy không khỏe. Chắn chắn rằng cái đầu thường đau đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống, nó khiến mệt mỏi và kiệt sức. Những lúc thế này, những lời dạy của Thầy Nhất Hạnh thật xa vời, nói đúng hơn mẹ không hề thực hành đựơc điều gì mà khi đọc mẹ đã rất tâm đắc. Mấy hôm nay mẹ đã nhẹ hơn. Lạy trời, ngày đó sắp đến!

Con trai con gái may mắn có cha có mẹ, có ông bà nội ngoại kế bên, con có đầy đủ tình yêu thương. Nhưng mẹ vẫn thấy thiếu thốn và thiệt thòi. Con đang thiếu những thứ mà lẽ ra đương nhiên phải có, một môi trường sạch để thở, cây cỏ tươi mát để ngắm, thức ăn sạch để nuôi dưỡng, và y tế giáo dục tốt để phát triển. Mà những thứ ấy giờ có vẻ là thứ xa xỉ bậc nhất ở Việt Nam… Mẹ mong lắm từ bác nông dân cho đến quan chức to biết nghĩ và thương cho những mầm non của đất nước. Hoa quả đâu cần phải to phải đẹp, chỉ cần sạch. Mà có vẻ ước mong của mẹ cũng quá xa xỉ!

Bài viết trên tạp chí Người Đẹp, số tháng 4.2015

(An Khôi)

Lịch sử mở mang bờ cõi nước ta trải dài suốt hơn 700 năm từ thế kỷ 11 luôn đẫm máu, mờ mịt khói lửa binh đao nam tiến. Nhưng có một cuộc mở cõi không đẫm máu, không rền vó ngựa hành quân, mà đẫm nước mắt mỹ nhân.

Hậu thế đã tốn biết bao giấy mực thương cảm lẫn luận công, tội của nàng – Công chúa Huyền Trân.

Làm dâu Chiêm Thành

Không lâu sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ 3, năm 1293 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con, thái tử Trần Thuyên trở thành vua Trần Anh Tông. Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tu Phật, vân du khắp nơi hoằng hoá đạo pháp. Mùa thu năm 1301, Thái thượng hoàng du ngoạn đến nước Chiêm Thành, được vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, mời ở lại trong cung điện Vijaya (Đồ Bàn) gần 9 tháng.

Chiêm Thành vốn là đồng minh với Đại Việt trong cuộc chiến chống quân Nguyên, quan hệ hai nước đang đà hữu hảo. Thượng hoàng một mặt cảm kích tài đức Chế Mân là vị vua anh hùng, mặt khác muốn đặt nền móng hoà thân lâu dài với Chiêm Thành vốn đã có nhiều oán hờn từ thời vua Lý Thánh Tông. Khi từ giã, Ngài hứa gả con gái là Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Khi đó Chế Mân đã có hoàng hậu người Chiêm và chính thất hoàng hậu Tapasi, người Java (Indonesia ngày nay).

Mùa xuân năm 1305 vua Chế Mân cử sứ thần Chế Bồ Đài dẫn bộ đoàn đem vàng bạc châu báu, trầm hương, ngọc ngà… làm sính lễ sang Đại Việt cầu hôn Công Chúa Huyền Trân theo lời ước gả của Thượng hoàng. Triều đình Đại Việt có phần không ưng thuận cuộc hôn nhân dị tộc. Duy chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành với điều kiện Chế Mân phải nạp thêm sính lễ gọi là “Lễ Nạp Trưng” theo tục lệ Đại Việt.

Năm 1306, Chế Mân tiến lễ dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) làm sính lễ rước công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành. Sau khi nhận hai châu Ô, Rý, vua Trần Anh Tông đổi tên thành Thuận Châu, Hóa Châu rồi sai Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị. Ô, Rý là vùng đất trải từ đèo Hải Vân Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay.

Mùa hạ năm 1306, vua Trần Anh Tông cử Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi, Ngự Sử Đoàn Nhữ Hải và Hành khiển Trần Khắc Chung dẫn đoàn quan quân hộ tiễn Công chúa Huyền Trân xuất giá về Chiêm. Từ thủ đô Thăng Long ra đến bến sông Hồng, dân chúng tiễn đưa cầu bình an cho Công chúa dày đặc bến sông.

Công chúa tài sắc mới vừa độ đôi mươi phải xa lìa cung điện, xa lìa quê hương yêu dấu, ngàn dặm lênh đênh nghìn trùng sóng để làm dâu xứ lạ, sao mà không bịn rịn cảm thương? Về đến kinh thành Vijaya, Công Chúa Huyền Trân được Chế Mân (vua Jaya Sinhavarman III) sủng ái hết mực, tấn phong làm hoàng hậu hiệu Paramecvari.

Giải cứu Hoàng Hậu

Hoàng hậu Paramecvari sớm tìm được tình yêu với vị vua tài ba và hoà nhập với cuộc sống xứ Chiêm Thành. Cuộc sống phu thê giữa Vua và Hoàng Hậu đang trải qua những ngày tháng êm đềm hạnh phúc trong một giai đoạn yên bình của lịch sử, trong sự hòa thân tốt đẹp của hai quốc gia Việt – Chiêm, thì bất hạnh ập đến với Hoàng Hậu Paramecvari, với triều đình và dân tộc Chiêm Thành: vua Jaya Sinhavarman III băng hà vào tháng 5 năm 1307, năm Hưng Long thứ 15. Khi đó Hoàng Hậu Paramecvari đang mang trong mình giọt máu của Chế Mân. Cuộc hôn nhân vương giả do sự an bài lịch sử của hai quốc gia vừa tròn một năm thì bạc mệnh.

Theo tục lệ nước Chiêm (Ấn giáo), khi vua băng hoàng hậu phải cùng lên giàn hỏa trà-tỳ để tuẫn táng. Huyền Trân vì đang mang thai nên hoãn hoả thiêu theo lễ trà-tỳ, đợi sau ngày lâm bồn. Khoảng tháng 8 năm đó, nàng hạ sinh Thể tử Chế Đa Da cho hoàng tộc Chiêm.

Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt dâng voi trắng và cáo việc tang. Vua Trần Anh Tông hay tin, sợ rằng em gái phải lên giàn hoả, bèn sai Nhập nội Hành khiển Trần Khắc Chung, An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành mượn cớ viếng tang nhưng là lập mưu đưa công chúa Huyền Trân và thế tử Chế Đa Da về nước. Quan Hành khiển Trần Khắc Chung được giao trọng trách vì ông là võ tướng dũng mãnh, mà tài thương thuyết hùng biện cũng không kém.

Đến Chiêm Thành vừa kịp trước lễ tuẫn táng, Trần Khắc Chung nói với Thế tử Chế Chí rằng: “Bản triều sở dĩ kết hiếu với Vương quốc vì vua trước là Hoàn Vương, người ở Tượng Lâm, thành Điển Xung, là đất Việt thường: hai bên cõi đất liền nhau thì nên yên phận, để cùng hưởng hạnh phúc thái bình cho nên gả công chúa cho Quốc vương. Gả như thế vì thương dân, chứ không phải mượn danh má phấn để giữ trường thành đâu! Nay hai nước đã kết hiếu thì nên tập lấy phong tục tốt. Quốc vương đây mất, nếu đem công chúa tuẫn táng thì việc tu trai không người chủ trương. Chi bằng theo lệ tục bản quốc, trước hãy ra bãi bể để chiêu hồn ở trên trời, đón linh hồn cùng về rồi mới hỏa đàn sau” (dẫn theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Ngô Sĩ Liên).

Chế Chí nghe theo lời giải bày của Trần Khắc Chung, để Huyền Trân xuống thuyền ra giữa biển làm lễ chiêu hồn Chế Mân. Trần Khắc Chung đã phục thuyền nhẹ chực sẵn, đợi thuyền chở công chúa vừa ra khơi xa, lập tức xông tới cướp công chúa rồi dong buồm nhắm thẳng phương bắc. Tháng 8 năm sau (1308) Huyền Trân về tới Thăng Long. Cuộc giải cứu Huyền Trân thành công, nhưng Thế tử Chế Đa Da vẫn ở lại Vijaya.

Kế sách hoà thân Việt – Chiêm của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông từ đây sụp đổ.

Mối oan tình?

Tại sao sau hơn một năm ròng, đoàn thuyền giải cứu Huyền Trân mới trở về? Đó là mấu chốt của nghi án mối tình giữa Huyền Trân công chúa và quan Hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “…Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô”.

Những sự kiện xoay quanh Huyền Trân đầy sóng gió và quan trọng như thế nhưng chỉ tìm thấy trong chính sử chỉ vài dòng ghi chép sơ sài. Cuộc giải cứu Huyền Trân quả thật kỳ bí, chắc chắn còn nhiều điều bí ẩn. Triều đại nhà Trần vì một lý do tế nhị nào đó mà chôn vùi sự việc. Điều này đã tạo nên một góc khuất, một vết gợn lịch sử, phủ một màn mây mù vào cuộc đời của nàng Công chúa nhà Trần, thêu dệt nên biết bao huyền thoại, bao mối nghi ngờ.

150 năm sau ngày giải cứu Huyền Trân, Sử thần Ngô Sĩ Liên buông lời chê trách nặng nề chuyện “tư thông”. Để rồi, hơn 700 năm sau, đó vẫn là một nghi án oan tình treo lửng lơ để hậu thế phải bận lòng suy xét.

Dù sao phải nhìn nhận cuộc giải cứu Huyền Trân thành công là có thực, quan Hành khiển Trần Khắc Chung vẫn được là bậc đại thần được trọng vọng, khi ông mất được truy phong tới chức Thiếu sư.

Tháng 8 năm Mậu Thân 1308, Huyền Trân về đến Thăng Long, thì đầu năm sau 1309 công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng.

Ni sư Hương Tràng mất ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340). Dân chúng thương tiếc tôn bà là “Thần Mẫu” và lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn. Ngày 9 tháng Giêng hàng năm trở thành ngày lễ hội đền Huyền Trân trên núi Ngũ Phong ở Huế.

Nước non ngàn dặm ra đi…Mối tình chi!

Mượn màu son phấn, Đền nợ Ô, Lý.

Xót thay vì, Đương độ xuân thì.

Số lao đao hay là nợ duyên gì?

IMAG2445_1 IMAG2448_1

(Bài viết trên tạp chí Người Đẹp, số 369, tháng 3.2015)

Chỉ cách một bước chân, hay đúng hơn chỉ một tầm mắt, bạn có thấy dòng đời vẫn mãi xoắn quanh. Lẫn trong những nhốn nháo thị phi đó, có đôi lần ta bắt gặp những ánh mắt vô hồn. Ánh mắt biết nhắc nhở ta nhìn lại mình, nhìn lại những mảng xám xịt để sống và tạo nên ánh ban mai đẹp đẽ phía trước, tô vẽ thêm những mảng màu tươi mới cho cuộc sống.

Những ánh mắt vô hồn

Hàng ngày tôi đi làm về trên con đường nhỏ, hun hút, lờ mờ ánh đèn vàng vạc. Con đường dọc khu công ty đường sắt đêm xuống cửa đóng im lìm. Khu chung cư đối diện cũng uể oải khép mình. Cả con đường khu trung tâm thành phố vì vậy như thêm hun hút. Bước đi trên con đường đó tưởng như nghe được cả bước chân mình, chỉ một mình, ngay cả cái bóng cũng nhàn nhạt. Khách lạ đường hẳn sẽ ngần ngại, nhưng với tôi, tôi thấy dễ chịu. Có lẽ, tôi đã thân quen cả con đường này, quen cả cái lờ mờ kỳ lạ của nó.

Có những khi, bên lề đường hắt bóng neon trắng lạ lẫm từ căn phòng nhỏ cửa mở, một nhóm nhỏ người đứng ngồi. Ánh neon trắng nhưng ám ảnh, nhóm người đứng ngồi bất an. Hay nói đúng hơn, tôi thấy bất lực, tôi nghẹt thở. Có khi bước chân dường như cùng nhịp với ánh đèn đỏ xoay tít của xe cấp cứu đậu thờ ơ ngay trước cửa. Hai sắc trắng đỏ nhưng u ám, phá vỡ ánh lờ mờ vàng vạc yên bình của bước chân và hơi thở.

Có những khi, giữa trời nắng chang chang của miền nhiệt đới mà thấy lạnh như run lên, một màu xám xịt tô vẽ ong ong trước mặt. Bên lề đường, hai người phụ nữ, một đã già, một dường như không nhận rõ tuổi tác, cơ mặt bà ta như đông cứng, ánh mắt vô hồn như bức vẽ. Không một giọt nước mắt. Nhưng vẽ ra cho tôi chỉ một màu xám xịt.

Ở đó, bên lề đường, sau tất cả là căn phòng gọi là “nhà vĩnh biệt”.

Chỉ cách vài bước chân, người ta vẫn mua bán, vẫn ăn uống. Cả một chợ trời nho nhỏ dường như xem căn phòng đó vô hình. Màu xám tô khắc mãi hẳn đã hóa thành trong suốt vô hình. Hoặc thoảng khi, vài ánh mắt và cái chỉ tay hiếu kỳ như lạc lõng tìm sang.

Chỉ cách vài bước chân, dòng xe chảy xoắn quanh tạo ra dòng đời bao nhiêu cái muốn lấp lánh. Chỉ đang thiếu một ánh mắt vô hồn. Địa ngục hay cõi thiên đàng, chẳng cần tìm đâu, chỉ cách vài bước chân, vài ý niệm, vài sắc trắng đỏ hay xám xịt.

… Và đôi dép vô chủ

“Thấy đôi dép đó hông? Nó còn ở đó nhưng ổng đi rồi…”. Đó là câu nói ám ảnh tôi khá lâu. Đến tận bây giờ, mỗi khi phải bước vào bệnh viện, tôi đều tự nhiên nhớ tới câu nói đó.

Hôm đó, tôi thăm ba của người bạn đồng nghiệp đang nằm điều trị ở bệnh viện Ung Bướu. Căn phòng hẹp có 6 giường. Hai giường trống nằm sát tường phía trong, giường bác nằm gần cửa. Bác bệnh nặng nhưng lạc quan vui vẻ, dí dỏm. Suốt buổi nói chuyện, gần như bác chỉ nói đến đứa con trai là niềm tự hào của đời bác. Nó học thế này, nó giỏi thế kia, tính nó thế nọ… Rồi bác vô tư kể về căn bệnh của mình, như đùa. Tôi từng vô phòng này 2 lần rồi, lần này là lần thứ 3, mà con biết phòng này là phòng gì không? Là “phòng thị thực đi thăm ông bà”, ai vô đây không quá 3 tuần là về quê luôn, ngon lành. Nói đoạn, bác cười phá lên sảng khoái. Đắng ngắt. Bác chỉ cái giường sát góc tường, thấy đôi dép đó hông? Nó còn ở đó nhưng ổng đi rồi, mới hôm trước ngồi ở chỗ này đánh cờ tướng với ổng, ông này ăn gian thấy mẹ, giờ ổng đi đánh cờ với ông bà rồi… Ổng u gì hổng nhớ nữa, mà u gì cũng “tèo” thôi. Bác khoe bác là kỷ lục ở đây rồi, vô lần thứ 3, người hiếm hoi vô phòng này rồi trở ra được, mà còn sống thêm 2 năm, vậy là ngon lành, là xịn nhất “chuồng” rồi! Có lẽ tôi chưa từng thấy ai vui tính như bác, lạc quan như bác, khi đang nằm trong căn phòng “thị thực ông bà” này.

Riêng tôi, gần như không nói được gì, chỉ vài lời thăm hỏi sáo rỗng, vô hồn. Cổ họng tôi nghẹn cứng. Đầu óc quay cuồng, ong ong. Vừa khi nãy, bước dọc hành lang vào đây, tôi tưởng mình lạc vào thế giới nào khác, thế giới của những ánh mắt vô hồn, trắng bệnh và trọc lóc. Ám ảnh.

Một tháng sau, bác đi.

Tôi nợ chính mình một dự định, một kế hoạch nói lên nỗi ám ảnh đó, có tràn ngập đôi mắt vô hồn, có cái giường trống hoác và đôi dép vô chủ…

Bên ngoài kia, dòng xe, dòng đời vẫn tấp nập, nhốn nháo thị phi.

(AN KHÔI)

Thay doi dep do hong

(Bài viết trên tạp chí Người Đẹp, số 369, tháng 3.2015)

Một sáng, anh sếp khệ nệ mang hai thùng sách to lên văn phòng, anh tặng mỗi nhân viên một bản như món quà năm mới. Cầm sách trên tay mới nhớ đã từng mua quyển này – 48 Nguyên tắc chủ chốt của quyền lực (Robert Greene). Tôi đọc ngẫu nhiên một trang sách có kể chuyện Gia Cát Lượng đẩy lùi 150,000 quân Tư Mã Ý mà không tốn một mũi tên nào. Vốn say mê truyện Tam Quốc, tôi thấy thích thú cách đặt vấn đề, lẫn góc nhìn của tác giả về câu chuyện dẫn minh họa, rồi sau đó rút ra một bài học nguyên tắc cốt lõi.

48 Nguyên tắc chủ chốt của quyền lực là quyển sách đầu tay của tác giả người Mỹ Robert Greene. Sách được dịch ra 24 thứ tiếng, bán được hơn 1,2 triệu bản chỉ riêng tại nước Mỹ, tạo được tiếng vang lớn trong giới phê bình lẫn bạn đọc.

Trong sách, Robert Greene đã tổng hợp có hệ thống những nguyên tắc tạo nên quyền lực dựa trên những câu chuyện có thật trong lịch sử, trình bày lại một cách logic và lôi cuốn. Thoạt đầu, nội dung sách cho bạn cảm giác hơi “tàn nhẫn” và “lạnh lùng” trong hành xử. Tuy nhiên, chẳng phải quyền lực có sức hấp dẫn vô cùng mạnh mẽ đối với mỗi người, mỗi thời? Lịch sử xét cho cùng là cuộc đấu tranh dai dẳng, không khoan nhượng để dành cho được quyền thống trị.

Chúng ta không thể nào chịu nổi cảm giác mình không có “một chút quyền lực” nào đối với mọi người và hoàn cảnh quanh ta. Quyền lực là thứ mà ai cũng mong muốn, nhưng không phải ai cũng có được. Cho dù bạn không hề khao khát quyền lực đi chăng nữa thì cũng đừng bao giờ để mình trở thành nạn nhân của quyền lực, trở thành vật lót đường trên đường đi đến quyền lực của kẻ khác.

Tác giả từng có dịp chia sẻ: “Tôi nhận được nhiều email bạn đọc khoe rằng quyển sách đã giúp họ thành công như thế nào trong cuộc sống và công việc. Và phần lớn họ đều có cảm giác rằng một số nguyên tắc dường như quá “tàn nhẫn””. Ông trả lời họ rằng: “Thật ra, những nguyên tắc quyền lực đó rất tích cực. Ai cũng cho rằng mình thật thánh thiện, sinh ra từ thiên thần, nhưng kỳ thật ai cũng có tổ tiên là loài linh trưởng. Quyền lực là một phần của tự nhiên, không có gì phải xấu hổ khi đạt được”.

Vươn lên khẳng định mình, thỏa mãn khao khát là nhu cầu chính đáng, rất người. Nhưng chỉ bằng tài năng có đủ để đạt được quyền lực? Cá nhân tôi vẫn tin rằng quyền lực sẽ đến theo cùng tài năng và sự kính trọng. Nhưng phải thừa nhận rằng 48 nguyên tắc vàng được Robert Greene chỉ ra như những công cụ tuyệt vời bạn cần mang theo trong hành trình vươn tới đỉnh cao.

BOX

Cuốn sách tuyệt vời cho người muốn có quyền lực, dõi theo quyền lực hay muốn tự “vũ trang” chống lại quyền lực.

(An Khôi)

review sach

(Bài viết trên tạp chí Người Đẹp, tháng 3.2015)

Hôm 22/2 vừa qua, sự kiện điện ảnh lớn nhất hành tinh 2015, lễ trao giải Oscar diễn ra tại nhà hát Dolby (Los Angeles, Mỹ) mang lại nhiều cảm xúc và vinh danh nữ diễn viên Julianne Moore.

Trước đó, Julianne Moore từng có hàng chục giải thưởng cao quí và 4 lần được đề cử Oscar. Tuy nhiên cô chưa từng được chạm tay vào tượng vàng danh giá. Sau 12 năm, cô được đề cử Oscar lần thứ 5 trong sự nghiệp với vai diễn để đời Alice Howland trong bộ phim Still Alice. Sau bốn lần lỡ hẹn, cô đào 55 tuổi Julianne Moore đã tận hưởng chiến thắng ở hạng mục “Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất” tại lễ trao giải Oscar lần thứ 87.

Bông hoa nở muộn

Cô sinh năm 1960 tại thành phố Bắc Carolina, tên thật là Julie Anne Smith. Cha cô là sĩ quan quân đội, mẹ là chuyên gia tâm lý. Thời thơ ấu cô sống qua nhiều thành phố khác nhau, chuyển trường 9 lần, gặp khó khăn để thích ứng và kết bạn vì công việc của cha cô đòi hỏi phải di chuyển liên tục. Tuy nhiên, việc thay đổi thường xuyên phần nào hình thành tính cách của cô:“Khi bạn phải chuyển nơi ở quá nhiều, bạn sẽ nhận ra rằng việc thay đổi thái độ là hữu ích. Tôi thường thay đổi tùy vào nơi mình đến. Việc di chuyển dạy cho bạn cách quan sát, sáng tạo và chỉ cho bạn rằng tính cách có thể thay đổi được”.

Cha mẹ muốn cô trở thành bác sĩ hay luật sư, nhưng cô chọn học ngành nghệ thuật ở Đại học Boston. Trong một thời gian dài, cô gái trẻ tốt nghiệp khoa diễn xuất trường đại học Boston ban đêm đi phục vụ bàn tại nhà hàng, ban ngày đi thử vai tìm kiếm cơ hội bước chân vào làng giải trí. Cô đến New York bắt đầu sự nghiệp diễn xuất ở mảng kịch nghệ và phim truyền hình.

Mãi đến năm 1990, Julianne Moore mới đảm nhận vai diễn điện ảnh thật sự đầu tiên trong phim Tales from the Darkside: The Movie (1990). Hai năm sau cô mới lại được tham gia một bộ phim khác, The Hand that Rocks the Cradle. Bộ phim trở thành quán quân phòng vé và giúp cô có được sự chú ý của các chuyên gia săn lùng tài năng.

Cô được xem như bông hoa nở muộn giữa vườn hoa Holywood. Bước chân vào điện ảnh và khẳng định bản thân khá muộn khi đã ngoài 30 tuổi. Nhưng điều đó không làm cô nhụt chí:“Tôi như con chuột gặm bức tường. Mỗi miếng đều mất rất nhiều thời gian, nhưng cuối cùng con chuột cũng ăn được cả bức tường, phải không?”

Julianne Moore từng bước khẳng định chỗ đứng trong danh sách những ngôi sao nữ tài năng nhất Hollywood. Cô tham gia phần hai bom tấn Jurassic Park (1997) của đạo diễn lừng danh Steven Spielberg, trước khi được đề cử Oscar đầu tay với một vai trong tác phẩm nhạy cảm Boogie Nights (1997).

Sự nghiệp tiến bước, cô thủ vai trong bộ phim được đánh giá cao The Big Lebowski (1998) của anh em nhà Coen, đóng cùng Tom Cruise trong Magnolia (1999) và có được đề cử Oscar thứ hai với The End of the Affair (1999).

Năm 2002, Julianne Moore gặt hái nhiều thành công khi nhận được tới hai đề cử Oscar cho hạng mục “Nữ diễn viên chính xuất sắc” và “Nữ diễn viên phụ xuất sắc” trong cùng một năm. Trong Far from Heaven, cô vào vai người vợ sụp đổ khi chồng thú nhận là người đồng tính. Vai diễn mang lại cho cô 19 giải thưởng tiền Oscar, bao gồm cả LHP Venice. Tờ Los Angeles Times đã nhận định “khả năng của Moore đã vượt qua cả giới hạn của sự xuất sắc trong diễn xuất”. Tuy nhiên, năm đó Julianne Moore vẫn vuột tay khỏi tượng vàng. Cô trải qua “cơn khát” đề cử Oscar trong suốt 12 năm sau đó, cho tới khi được vinh danh tại nhà hát Dolby tối 22/2 vừa qua.

Vai diễn để đời

Chẳng hề phóng đại khi gọi Julianne Moore là huyền thoại sống, là món quà của Thượng đế dành cho nền điện ảnh. Hiếm có nữ diễn viên nào có khả năng nhập vai dễ dàng các vai diễn khác nhau. Cô đủ can đảm sống hết mình với các vai diễn, từ vai hài, bi, kinh dị cho đến tâm lý. Cô dám hóa thân vào đủ loại nhân vật, từ ngôi sao phim khiêu dâm cho đến bà nội trợ ngoại tình hay người vợ đồng tính. Chính điều đó giúp cô là một trong số ít nữ diễn viên Hollywood có được thành công ở cả dòng phim thương mại lẫn phim nghệ thuật. Trong lòng khán giả, cái tên Julianne Moore trên poster đảm bảo cho bộ phim giàu tính nhân văn, sâu sắc, vô cùng gần gũi với cuộc sống và đáng xem.

Ở độ tuổi 55, nhiều nữ diễn viên Hollywood đã nghỉ hưu hoặc chìm nghỉm, Julianne Moore lại tỏa sáng rực rỡ nhất. Vai nữ giáo sư Alice Howland mắc bệnh Alzheimer trong Still Alice đã đem về cho Moore mọi vinh quang xứng đáng, từ Quả cầu vàng cho tới BAFTA và đỉnh cao là Oscar.

Nội dung bộ phim kể về nữ giáo sư ngôn ngữ Alice đang có cuộc sống đáng mơ ước: một công việc ổn định, một người chồng tâm lý và ba đứa con. Một ngày nọ, Alice nhận ra mình đang quên dần từ ngữ, rồi được chẩn đoán mắc chứng Alzheimer giai đoạn đầu. Bộ phim kể câu chuyện từ góc nhìn của người bệnh đã đặt ra thách thức lớn khi diễn viên phải lột tả nhân vật Alice biến hóa từ một nữ giáo sư minh mẫn trở nên một người mất dần trí nhớ.

Moore chuẩn bị kỹ lưỡng cho vai diễn trong gần nửa năm. Cô tiếp xúc với bệnh nhân Alzheimer tại các trại điều dưỡng, nghe họ tâm sự về những trải nghiệm khi mới mắc bệnh và cách vượt qua mặc cảm trong quá trình điều trị. Moore chủ động liên hệ và trò chuyện với nữ y tá Sandy Oltz, nhân vật tạo cảm hứng cho tác phẩm Still Alice. Chính Sandy Oltz chia sẻ khi xem Still Alice: “Khi bộ phim kết thúc, tôi cảm thấy như vừa được xem chính mình trong phim. Tôi không nhận ra rằng Moore đã chú ý tới cả những cử chỉ nhỏ nhất của tôi. Cô ấy đã hỏi tôi nhiều câu hỏi, tôi đã trả lời, chỉ tới khi xem phim tôi mới nhận ra cô ấy thực sự lắng nghe và quan sát mình. Cô ấy đã thực sự đưa trải nghiệm của một người mắc bệnh Alzheimer lên màn ảnh thông qua nhân vật Alice”.

Julianne Moore diễn xuất sắc ngay từ khi bước vào khung hình. Vai diễn của cô đi từ những biến cố tâm lý nhỏ cho đến khi bùng nổ. Hãy xem giới phê bình nhận xét vai diễn Alice: “Moore cực kỳ giỏi khi thể hiện những biến đổi cảm xúc không lời. Khán giả nhìn cơ mặt cô ấy cử động và hiểu được cảm giác khi tâm hồn trống rỗng kinh khủng ra sao”.

Vai diễn đã khẳng định cô đúng là là “nữ hoàng vô song của những vai diễn phụ nữ khổ đau”, nhân vật của cô biết khóc từ trong tâm hồn. Julianne Moore giờ đây đã hoàn tất bộ sưu tập các giải thưởng diễn xuất danh giá nhất: LHP Cannes, Venice, Berlin, BAFTA, SAGs, Quả Cầu Vàng và Oscar.

Gia đình là số 1

Năm 22 tuổi, Julianne Moore sớm kết hôn cùng nam diễn viên John Gould Rubin. Sau 10 năm, cuộc hôn nhân kết thúc trong êm đẹp. Cô kết hôn khi còn quá trẻ, sau đó là những ngày tháng quay cuồng với sự nghiệp, cho đến khi cô mệt mỏi nhận ra đã đến lúc phải sống cho riêng mình.

Julianne Moore gặp Bart Freundlich lần đầu vào năm 1996, khi cô tham gia vào bộ phim The Myth of Fingerprints do anh làm đạo diễn. Hai người phải lòng nhau từ cái nhìn đầu tiên dù Bart Freundlich kém cô đúng 10 tuổi.

Năm 2003, Julianne Moore 43 tuổi kết hôn với Bart Freundlich 33 tuổi trong một lễ cưới đặc biệt nhất Hollywood. Trái ngược hoàn toàn với các đám cưới hoành tráng kiểu siêu sao, hôn lễ của họ được tổ chức vô cùng giản dị và ấm cúng ngay trong vườn nhà của đôi uyên ương. Khách mời chỉ có 36 người, gồm gia đình và bạn thân. Đặc biệt, lễ cưới không thể thiếu hai nhân vật quan trọng là cậu con trai Caleb lên 5 và cô con gái Liv tròn 16 tháng.

Những khi ở nhà bên chồng con, Julianne hoàn toàn giống như những bà mẹ, bà nội trợ bình thường. Mái tóc đỏ kẹp gọn gàng, trang phục giản dị, gương mặt mộc tươi tắn, trông cô hoàn toàn chẳng còn chút dáng vẻ của ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nữa.

Julianne thừa nhận, việc cân bằng giữa công việc và gia đình thật sự khó khăn. Tuy nhiên, cô luôn xem gia đình luôn là ưu tiên số 1. Công việc đóng phim luôn phải xa nhà thường xuyên nhưng cô không mang các con theo đến mọi nơi như nhiều nữ diễn viên khác. Cô không muốn các con phải trải qua thời thơ ấu phải thường xuyên thay đổi nên quyết định cả nhà định cư ở Manhattan, New York.

Cả hai vợ chồng dù bận rộn nhưng luôn cùng nhau chăm sóc gia đình và bọn trẻ. Julianne thường chỉ nhận những lời mời đóng phim ở xa vào dịp hè. Thời gian khác, cô chủ yếu làm việc tại New York để có thể chăm sóc tốt hơn cho gia đình và các con đang ở độ tuổi cần nhiều quan tâm.

Nữ diễn viên nổi tiếng chia sẻ rằng vợ chồng cô chưa bao giờ phải thuê người giúp việc hay vú em để giúp chăm sóc hai con. Bart và Julianne muốn cuộc sống của gia đình họ cũng bình thường và giản dị như tất cả các gia đình khác. Bí quyết đặc biệt để gìn giữ hạnh phúc gia đình của cô là luôn dành cho nhau yêu thương, cảm thông và thấu hiểu.

Tình yêu gia đình và hai con là niềm cảm hứng cho cô xuất bản 3 tập sách thiếu nhi Freckleface Strawberry và được chào đón nồng nhiệt.

BOX:

Cô mở đầu bài phát biểu khi nhận tượng vàng một cách hài hước: “Tôi có đọc một bài báo nói rằng đoạt giải Oscar sẽ giúp sống thọ thêm 5 năm. Nếu điều đó là thật thì tôi rất cảm ơn Viện Hàn Lâm Điện ảnh Mỹ, vì chồng tôi trẻ tuổi hơn tôi”.

BOX

“Khả năng của Moore đã vượt qua cả giới hạn của sự xuất sắc trong diễn xuất”- Los Angeles Times

BOX

Cô giải thích vì sao chọn nghệ danh là Julianne Moore: “Tên tôi là Julie Anne Smith. Tên đệm cha tôi là Moore, còn tên mẹ tôi là Anne. Do vậy, tôi ghép tên mình với tên mẹ và nối với tên đệm của cha. Bằng cách đó, tôi có thể dùng tên cả hai và không làm ai buồn”.

Jullian More1 Jullian More2

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.