Lời giới thiệu

Chương 1 – Thời gian trước

Chương 2 – Nỗi sợ bản năng

Chương 3 – Hòa giải với quá khứ

Chương 4 – Thoát khỏi những nỗi sợ về tương lai

Chương 5 – Không đến không đi

Chương 6

Không-sợ-hãi là món quà có thể dành tặng cho người khác (món quà vô úy)

Nếu bạn có người thân đang đối mặt với cái chết, người đó có lẽ rất sợ hãi. Nếu bạn muốn có khả năng giúp đỡ được người thân, bạn phải học cách nuôi dưỡng hạt giống không-sợ-hãi (vô úy). Vô úy là nền tảng của hạnh phúc đích thực, và nếu bạn có thể đem lại không-sợ-hãi cho người khác thì bạn đã dành tặng cho người ấy món quà tốt nhất. Nếu bạn có thể cùng ngồi vững chãi với người thân trong những thời khắc khó khăn này thì bạn có thể giúp người ấy chết bình an và không sợ hãi. Vô úy là phần tinh túy nhất trong bài giảng của Bụt.

Thiền tập giúp bạn có thể chế tác được năng lượng chánh niệm và sự tập trung (định). Những năng lượng này trở lại giúp chúng ta hiểu biết rằng không có gì thật sự sinh ra hay mất đi. Chúng ta hoàn hoàn có thể loại bỏ nỗi sợ về cái chết. Một khi hiểu rằng chúng ta không thể bị hoại diệt thì chúng ta thoát khỏi sợ hãi. Đó là một niềm tin to lớn. Không-sợ-hãi còn là niềm vui tuyệt đối.

Nếu chúng ta cứ lo sợ thì không thể nào có được hạnh phúc hoàn toàn. Nếu ta vẫn tiếp tục chạy theo vọng tưởng, chúng ta vẫn còn có nỗi sợ. Nỗi sợ luôn theo cùng với dục vọng. Vì muốn an toàn và hạnh phúc, chúng ta mơ tưởng đến ai đó, đạt được một mục tiêu nào đó như tiền bạc hay danh tiếng mà chúng ta cho là đảm bảo được hạnh phúc. Chúng ta không bao giờ hoàn toàn hài lòng với những mơ tưởng nên vẫn mãi theo đuổi và cảm thấy sợ hãi. Nếu bạn biết dừng lại, cho dù là một ai đó, một mục tiêu nào đó, thì nỗi sợ tự khắc tan biến. Không sợ hãi, bạn sẽ được bình an. Với bình an trong thân và tâm, bạn sẽ không bị sợ hãi vây quanh, và thực tế rằng bạn sẽ ít bị tai nạn hơn. Bạn được tự do.

Nếu chúng ta có thể chế tác được khả năng hiện diện của sự không-sợ-hãi và buông bỏ, thì điều đó quý hơn bất cứ tiền bạc và của cải vật chất. Sợ hãi làm hỏng cuộc sống của ta và làm ta khổ sở. Chúng ta bám vào thứ gì và vào ai đó, như người chết đuối bám lấy bất cứ vật gì đang trôi. Bằng cách thực tập buông bỏ và chia sẻ tuệ giác này với những người khác là chúng ta ban tặng cho họ món quà của vô úy. Vạn vật đều vô thường. Giây phút này rồi sẽ qua đi. Vọng tưởng rồi cũng qua đi, nhưng chúng ta biết rằng hạnh phúc thì luôn luôn có mặt.

Những Thứ Độc Hại

Chúng ta không muốn sợ hãi, giận dữ, đau khổ, vì vậy ta ngăn chặn nó bằng cách sa vào những phương tiện giải trí như lướt web, chơi game, xem phim ảnh, ca nhạc. Tất cả những thứ này có thể chứa độc hại làm tăng bệnh tật và nỗi sợ.

Giả sử bạn xem tivi trong một giờ đồng hồ. Điều này tưởng chừng rất nhỏ, nhưng bạn biết rằng có rất nhiều cảnh bạo lực, có rất nhiều nỗi sợ và rất nhiều độc tố trong chương trình một giờ đó. Và bản thân bạn bị đầu độc hằng ngày. Bạn nghĩ rằng bạn vừa có được một ít niềm tin, nhưng trong khi giải trí, bạn lại tiếp tục mang vào sâu trong ý thức nhiều yếu tố gây đau khổ. Vì vậy nỗi đau nằm sâu trong bạn tiếp tục lớn hơn. Chúng ta đầu độc bản thân bằng những gì chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Chúng ta biến cái tivi thành người trông coi trẻ, và trẻ con bị đầu độc hằng ngày bởi những gì chúng xem và nghe ở đó. Bụt gọi đó là những thứ độc hại. Những thứ độc hại đã sẵn có trong ta rồi, nằm sâu trong ý thức và thậm chí chúng ta lại mở lòng ra để đón nhận thêm nhiều thứ độc hại nữa.

Môi trường của chúng ta bị ô nhiễm nặng bởi nhiều chất độc. Tập thiền nghĩa là nhận ra tất cả những gì đang diễn ra, không chỉ thấy trong thân xác này mà còn thấy cả vạn hữu ngoài kia. Chúng ta và con cháu chúng ta đang nạp vào những thứ độc hại. Đó là những gì đang xảy ra trong hiện tại. Nếu bạn để ý, bạn sẽ thức tỉnh với sự thật rằng chúng ta đang tự đầu độc mình trong một thời gian dài. Chúng ta phải tìm cách dừng lại việc nạp những chất độc đang nuôi dưỡng nỗi sợ của chúng ta.

Tương Tức

Khi chúng ta nhìn sâu vào tờ giấy, chúng ta thấy đầy đủ vạn vật trong vũ trụ: ánh nắng, rừng cây, đám mây, mặt đất, chất khoáng và mọi thứ – trừ một thứ, đó là tự tính riêng rẽ. Tờ giấy không thể là riêng mình nó. Đó là sự tương tức của tất cả vạn vật trong vũ trụ. Đó là lý do từ “tương tức” (inter-be) có ý nghĩa hơn từ “be” (hiện hữu). Sự thật “hiện hữu” có nghĩa là “tương tức”. Tờ giấy không thể có mà không có mặt của ánh nắng mặt trời và không thể không có sự có mặt của cánh rừng. Tờ giấy phải tương tức với ánh nắng và tương tức với cánh rừng.

Nếu bạn hỏi làm thế nào thế giới này tồn tại, Bụt sẽ nói rất đơn giản “Cái này có vì cái kia có. Cái này không vì cái kia không”. Bởi vì có ánh nắng mặt trời nên ta có tờ giấy. Bởi vì có cái cây nên ta có tờ giấy. Bạn không thể tự là chính bạn, mà bạn phải có sự tương tức với vạn vật khác trong vũ trụ. Đó là bản chất của tương tức. Tôi không nghĩ rằng từ “inter-be” có trong tự điển, nhưng tôi tin sẽ sớm có thôi, bởi vì nó giúp chúng ta thấy được bản chất thật của vạn vật, bản chất của tương tức.

Nếu bạn bị nhốt vào ý nghĩ của tự tính riêng biệt, bạn có nỗi sợ rất lớn. Nhưng nếu bạn nhìn cho sâu và có khả năng thấy “bạn” ở khắp nơi, bạn sẽ không sợ hãi.

Là một người đi tu, tôi thực tập nhìn sâu mỗi ngày. Tôi không chỉ hướng dẫn tu tập mà tôi có thể thấy tôi trong các học trò của mình. Tôi thấy tôi trong các vị tổ tiên. Tôi thấy sự tiếp nối của tôi ở khắp nơi trong giây phút này. Mỗi ngày tôi cố gắng truyền đạt cho học trò của mình những điều tốt đẹp nhất mà tôi đã học được từ những người thầy và từ sự tu tập của mình.

Tôi không tin rằng vào một ngày nào đó tôi sẽ bị ngừng lại. Tôi nói với những người bạn rằng thế kỷ hai mươi mốt như một ngọn đồi xinh đẹp mà tôi và tăng thân cùng nhau đi lên. Tôi sẽ cùng với tăng thân đi hết ngọn đồi đó. Tôi không thấy có một chút trở ngại nào hết vì tôi thấy tất cả mọi người ở trong tôi và tôi ở trong họ. Đó là phép thực tập nhìn sâu, quán tưởng tính không, thực tập tương tức.

Câu chuyện về ông Cấp Cô Độc (Anathapindika)

Ông Cấp Cô Độc – sống cách đây 2600 năm, là một đệ tử rất thân cận với Bụt. Ông Cấp Cô Độc là một thương gia có tấm lòng rộng rãi, ông dùng thì giờ và công sức của mình để giúp những người nghèo đói. Ông ban tặng rất nhiều của cải cho người nghèo, nhưng không vì thế mà ông bớt giàu đi. Tên thật của ông là Sudatta, nhưng ông được gọi là ông Cấp Cô Độc, có nghĩa là “người chu cấp, thương tưởng tới những kẻ nghèo đói”. Ông cũng nhận được rất nhiều hạnh phúc. Ông có nhiều bạn bè trong giới thương gia và tất cả họ đều yêu mến ông.

Ông Cấp Cô Độc có nhiều niềm vui trong việc phụng sự Bụt. Ông từng dùng của cải của mình để mua tặng Bụt một khu vườn và xây dựng một trung tâm tu học tên là Kỳ Viên (Jeta Grove), nơi Bụt cùng tăng đoàn tu tập. Kỳ Viên đã trở một trung tâm tu học rất nổi tiếng, và mọi người đến đây nghe Bụt giảng pháp mỗi tuần.

Một ngày Bụt nghe tin người môn đồ yêu mến của mình là ông Cấp Cô Độc bị bệnh rất nặng. Người đi thăm ông và nhắc ông thực tập thở chánh niệm ngay trên giường bệnh. Sau đó Người cử Thầy Xá Lợi Phất (Shariputra) – người bạn thân của Cấp Cô Độc hãy đến chăm sóc cho ông.

Thầy Xá Lợi Phất và một người em đồng tu nhỏ tuổi hơn là Thầy Ananda cùng đi thăm ông Cấp Cô Độc. Khi hai vị tăng đến, ông Cấp Cô Độc quá yếu đến nỗi không thể ngồi dậy chào họ. Xá Lợi Phất bảo “Ông bạn ơi, ông đừng cố dậy làm gì, hãy nằm đó nghỉ ngơi. Chúng tôi sẽ mang ghế tới ngồi cạnh ông đây”.

Rồi Xá Lợi Phất hỏi ông “Ông bạn cảm thấy thế nào? Có đau lắm không? Cái đau nó tăng hay giảm?” Ông Cấp Cô Độc trả lời “Thưa Thầy, hình như cái đau trong thân tôi không giảm mà tăng lên hoài”.

Thầy Xá Lợi Phất nghe vậy quyết định hướng dẫn ông Cấp Cô Độc thực tập vài bài thiền quán. Là một trong những vị đệ tử xuất sắc nhất của Bụt, Thầy Xá Lợi Phất biết rất rõ rằng việc giúp ông Cấp Cô Độc tập trung tâm thức vào Bụt – người mà ông ta yêu kính, sẽ cho ông rất nhiều an lạc. Thầy Xá Lợi Phất đã tưới tẩm hạt giống hạnh phúc bên trong ông Cấp Cô Độc. Thầy biết rằng nhắc tới những việc đã làm ông Cấp Cô Độc hạnh phúc trong cuộc đời ông ấy sẽ tưới tẩm những hạt giống tốt lành bên trong ông và làm giảm cái đau trong giờ khắc nguy cấp này.

Thầy Xá Lợi Phất mời ông Cấp Cô Độc thở vào và thở ra trong chánh niệm và chú tâm vào những điều hạnh phúc nhất của ông ấy: những việc ông đã làm cho người nghèo, rất nhiều hành động rộng rãi, tình thương và lòng từ bi mà ông đã chia sẻ với gia đình ông và những người bạn đồng tu với Bụt.

Trong chỉ 5-6 phút sau đó, nỗi đau mà ông Cấp Cô Độc đang phải gánh chịu trong thân thể dần dần giảm đi, bởi vì những hạt giống an lạc trong ông đã được tưới tẩm, và ông mỉm cười. Tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc là việc làm rất quan trọng cho người đau ốm hay người sắp lìa đời. Tất cả chúng ta đều có những hạt giống hạnh phúc trong mình. Trong những lúc khó khăn như đau ốm hay sắp chết, cần có bạn bè ngồi với ta để giúp ta tiếp xúc được với những hạt giống tốt đó. Nếu không các hạt giống sợ hãi, hối tiếc hay thất vọng sẽ xâm chiếm chúng ta dễ dàng.

Khi ông Cấp Cô Độc có khả năng mỉm cười, Thầy Xá Lợi Phất biết rằng phương pháp thiền tập đã hiệu nghiệm. Thầy Xá Lợi Phất tiếp tục mời ông Cấp Cô Độc tiếp tục thiền quán theo Thầy hướng dẫn. “Này ông bạn, đây là lúc thiền quán 6 giác quan. Cùng thở vào và thở ra với tôi nào”.

“Đôi mắt này không phải là tôi, tôi không kẹt vào hai mắt đó.
Thân này không phải là tôi, tôi không kẹt vào nơi thân ấy.
Tôi là sự sống thênh thang.
Tôi chưa bao giờ từng sinh cũng chưa bao giờ từng diệt.”

Khi một người sắp lìa đời, họ bị kẹt vào cái ý niệm thân thể này là của mình, bị kẹt vào ý niệm sự hoại diệt của thân thể này là hoại diệt của mình. Tất cả chúng ta đều sợ trở thành hư vô. Nhưng sự hoại diệt của cái thân người không thể đụng tới bản chất thật sự của người đó. Chúng ta phải có khả năng nhìn sâu để thấy những hình thức khác, không chỉ trong thân xác này, điều đó rất quan trọng. Mỗi người chúng ta đều có một đời sống không có giới hạn.

“Thân này không phải là tôi, tôi không kẹt vào nơi thân ấy.

Tôi là sự sống thênh thang.

Đôi mắt này không phải là tôi, tôi không kẹt vào hai mắt ấy.

Đôi tai này không phải là tôi, tôi không kẹt vào đôi tai ấy.

Cái mũi này không phải là tôi, tôi không kẹt vào cái mũi ấy.

Cái luỡi này không phải là tôi, tôi không kẹt vào cái lưỡi ấy.

Thân này không phải là tôi, tôi không kẹt vào nơi thân ấy.

Tâm thức này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào tâm thức ấy”

Hai Thầy đã hướng dẫn ông Cấp Cô Độc thiền quán các đối tượng của 6 giác quan. Người sắp lìa đời có thể vướng víu vào những hình tướng, âm thanh, thân thể, tâm thức, vv, và cho rằng những đối tượng này là của họ, họ đang mất những thứ đó, họ mất cả chính họ. Những bài thiền tập này đem lại rất nhiều lợi lạc cho một người bị bệnh hoặc hấp hối.

“Những gì tôi thấy không phải là tôi. Tôi không kẹt vào những gì tôi thấy.

Những âm thanh này không phải là tôi. Tôi không kẹt vào những âm thanh ấy.

Khức giác này không phải là tôi, tôi không kẹt vào những khứu giác ấy.

Vị giác này không phải là tôi, tôi không kẹt vào những vị giác ấy.

Xúc giác này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào xúc giác ấy.

Những ý nghĩa này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào những ý nghĩ ấy”.

Ông Cấp Cô Độc hiểu hai Thầy rất rõ. Cả hai Thầy đều là những vị đệ tử tín cẩn của Bụt, và họ đang ngồi đây hỗ trợ cho mình. Vì vậy ông có khả năng thiền quán một cách dễ dàng, thậm chí trong khi ông đang bị bệnh nghiêm trọng. Sau đó Thầy Xá Lợi Phất hướng dẫn ông tiếp tục thiền quán về thời gian:

Quá khứ không phải là tôi, tôi không kẹt vào quá khứ.

Hiện tại không phải là tôi, tôi không kẹt vào hiện tại.

Tương lai không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào tương lai.

Cuối cùng, họ hướng dẫn ông thiền quán về tính có và không, đến và đi. Họ hướng dẫn ông rất kỹ. Thầy Xá Lợi Phất nói “Ngày ông bạn Cấp Cô Độc, vạn vật hiện hữu khi nó có đủ nguyên nhân và điều kiện. Bản chất của vạn vật là vô sinh bất diệt, không đến cũng không đi”.

Khi thân thể đến lúc có mặt thì có mặt. Điều này không đến từ đâu cả. Khi nhân duyên đầy đủ, thân thể biểu hiện. Khi những điều kiện nhân duyên không còn đầy đủ, bạn không nhận thấy nó nữa, và bạn nghĩ rằng nó không hiện hữu. Sự thật, bản chất của mọi vật là vô sinh bất diệt.

Ông Cấp Cô Độc là một người thực tập giỏi. Khi ông thực tập đến điểm này, ông cử động và bừng sáng. Ông đã có khả năng tiếp xúc được bình diện của vô sinh bất diệt. Ông đã giải phóng khỏi ý niệm ông chỉ là thân xác. Ông giải phóng ra khỏi ý niệm sinh tử, ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu, và ông có khả năng tiếp nhận món quà không-sợ-hãi.

Vạn vật có mặt vì có sự kết hợp của nhiều nguyên nhân. Khi nguyên nhân và điều kiện đầy đủ, thân xác ta biểu hiện. Khi nguyên nhân và điều kiện chưa đầy đủ, thân xác ta vắng mặt. Cũng giống như mắt, tai, mũi, lưỡi, tâm ý, thân, âm thanh, mùi vị, xúc giác, vv. Điều này có vẻ trừu tượng, nhưng chúng ta đều có khả năng hiểu sâu nó. Bạn phải biết bản chất thật sự của cái chết để hiểu bản chất thật sự của sự sống. Nếu bạn không hiểu về cái chết, bạn cũng không hiểu về sự sống.

Bụt dạy cho chúng ta bớt khổ. Cơ sở của nỗi sợ là do không biết bản chất chân thật của mình và của thế giới xung quanh. Nếu bạn không hiểu biết, bạn sẽ sợ hãi, và nỗi sợ đó làm bạn nhiều đau khổ. Vì thế, không-sợ-hãi là món quà tốt nhất bạn có thể dành tặng cho mình và cho bất cứ người nào khác.

Không-sợ-hãi là một phép thực tập quan trọng, yêu cầu bạn phải nhìn cho sâu để giảm bớt nỗi sợ sẵn có trong mỗi người. Nếu bạn không sợ hãi, cuộc sống của bạn sẽ hạnh phúc và đẹp đẽ hơn, và bạn sẽ có khả năng giúp được nhiều người, như Ngài Xá Lợi Phất đã giúp ông Cấp Cô Độc. Năng lượng vô úy là nền tảng tốt nhất cho những hoạt động xã hội, những hoạt động từ bi bảo vệ con người, bảo vệ trái đất, thỏa mãn nhu cầu yêu thương và phụng sự của bạn.

Sống hạnh phúc, chết bình an là chuyện có thể làm được. Ta sẽ được như thế khi ta nhìn thấy mình tiếp tục biểu hiện trong các hình thái khác. Ta cũng có thể giúp người khác chết bình an nếu ta có những yếu tố vững chãi và vô úy trong ta. Bao nhiêu người trong chúng ta có cái sợ sẽ thành hư vô. Vì sợ hãi mà ta rất đau khổ. Vì vậy mà ta cần giúp người sắp chết hiểu được cái chân lý: “ta chỉ là sự tiếp nối trong nhiều biểu hiện.” Như vậy ta sẽ không bị chuyện sống chết làm cho ta hoảng sợ, vì ta hiểu đó chỉ là những khái niệm mà thôi. Sự hiểu biết này có thể giúp ta vượt thoát sợ hãi.

Nếu chúng ta biết thực tập và chú tâm vào thực tại của vô sinh bất diệt và ta nhận ra rằng đến-đi cũng chỉ là những ý niệm, và nếu chúng ta có mặt vững vàng và bình an, chúng ta sẽ giúp người đang hấp hối không còn lo sợ và đau khổ nhiều. Chúng ta có thể giúp người ấy chết bình an. Chúng ta có thể giúp bản thân sống không sợ hãi và chết bình an khi hiểu được rằng không có gì là mất đi, đó chỉ là sự tiếp nối. Trong những giây phút cuối đời, ông Cấp Cô Độc đã nhận được món quà quí nhất – không sợ hãi, và ông đã chết nhẹ nhàng, bình an mà không còn đau đớn hay sợ hãi.
(hết chương 6)

————–

Trong một tác phẩm khác, Sư Ông có viết:

“Tôi đã lấy những lời lẽ của bài “Kinh Dành Cho Người Hấp Hối” (Anguttara Nikaya) để làm thành một bài hát. Đó là một điệu ru, có thể hát cho người sắp chết nghe, khi họ sắp thở hơi cuối cùng:
“Thân này không phải là tôi
Tôi không kẹt vào nơi thân ấy
Tôi là sự sống thênh thang
Tôi chưa bao giờ từng sinh và cũng chưa bao giờ từng diệt
Này kia biển rộng trời cao
Muôn ngàn tinh tú lao xao
Tất cả đều biểu hiện tôi, từ nguồn linh tâm thức
Tự muôn đời tôi vẫn tự do
Tử sinh là cửa ngõ ra vào
Tử sinh là trò chơi cút bắt
Hãy cười cùng tôi
Hãy nắm tay tôi
Hãy vẫy tay chào để rồi tức thì gặp lại
Gặp lại hôm nay
Gặp lại ngày mai
Chúng ta sẽ gặp nhau nơi suối nguồn
Chúng ta sẽ gặp lại nhau trên muôn vàn nẻo sống.”

28.7.2015

Nỗi sợ lớn lao nhất của con người là khi chết, chúng ta sẽ trở thành hư vô. Nhiều người trong chúng ta tin rằng tất cả sự hiện hữu của chúng ta giới hạn trong một thời gian nhất định. Chúng ta tin rằng cuộc đời của ta bắt đầu từ lúc chào đời và chấm dứt khi ta chết. Chúng ta tin rằng chúng ta tới từ cái Không, nên khi chết chúng ta cũng không còn lại gì hết. Và chúng ta lo lắng vì sẽ trở thành hư vô.

Nhưng khi chúng ta nhìn thật sâu, ta có thể có một hiểu biết rất khác biệt về sự hiện hữu. Chúng ta có thể thấy sinh và diệt chỉ là những ý niệm không có thật. Bụt dạy rằng không sinh và không diệt. Coi đó là những sự thực, chính là nguyên do gây cho chúng ta khổ não. Khi chúng ta hiểu rằng mình không bị hủy diệt thì chúng ta không còn lo sợ. Đó là niềm tin vững chãi. Chúng ta có thể an hưởng và thưởng thức đời sống một cách mới mẻ.

Khi mẹ tôi mất, tôi đau khổ rất nhiều. Ngày mẹ tôi mất, tôi viết vào nhật ký “Tai nạn lớn nhất đời tôi đã xảy ra rồi”. Tôi đau khổ hơn một năm sau khi mẹ qua đời. Nhưng rồi một tối, tôi đang ngủ trong cái cốc sau chùa trên lưng chừng đồi chè ở vùng cao nguyên Việt Nam, tôi nằm mơ thấy mẹ tôi. Tôi thấy tôi ngồi chơi cạnh bà và chúng tôi đã nói chuyện rất vui. Mẹ tôi trông trẻ đẹp, tóc bà thả dài xuống lưng. Tôi sung sướng khi ngồi và nói chuyện với mẹ như thể là bà chưa bao giờ chết vậy.

Khi tôi thức dậy, tôi có cảm xúc mãnh liệt rằng tôi chưa bao giờ mất mẹ. Cảm giác rằng mẹ vẫn còn với tôi rất rõ ràng. Tôi hiểu rằng ý tưởng mất mẹ chỉ là một ý tưởng mà thôi. Rõ ràng lúc đó tôi thấy mẹ luôn luôn còn sống trong tôi.

Tôi mở cửa đi ra ngoài. Tất cả sườn đồi đang tắm trong ánh trăng. Bước thong thả trong ánh sáng dịu qua những luống trà, tôi thấy rằng thật sự mẹ tôi vẫn ở bên tôi. Bà là ánh trăng vuốt ve tôi như đã từng làm, thật dịu dàng âu yếm. Mỗi khi chân tôi chạm mặt đất, tôi biết rằng mẹ tôi vẫn đang ở cạnh. Tôi biết cái thân này không phải là của riêng tôi mà là sự tiếp nối của mẹ, cha, của ông bà, của cụ kỵ, của tổ tiên. Những dấu chân tôi tưởng của tôi, thực ra là của cả hai chúng tôi. Tôi và mẹ cùng để lại những dấu chân trên mặt đất ẩm ướt đó.

Từ lúc ấy, ý nghĩ rằng tôi đã mất mẹ không còn hiện diện trong tôi nữa. Tất cả những gì tôi làm là nhìn vào lòng bàn tay tôi, cảm nhận làn gió mát qua mặt hay mặt đất dưới chân, để nhớ rằng mẹ tôi luôn có mặt với tôi, bất kỳ lúc nào.

Khi bạn mất đi người thương thì ta đau khổ. Nhưng nếu bạn biết cách nhìn sâu, bạn có một cơ hội để nhìn ra rằng bản thể của người đó là vô sinh, bất diệt. Chỉ có sự biểu hiện và sự ngừng lại để biểu hiện dưới hình thức khác mà thôi. Bạn phải được nhắc để nhận ra những biểu hiện mới của một người.  Nhưng khi thực tập và cố gắng, bạn có thể làm được điều đó. Hãy để tâm vào vạn vật xung quanh, từng cái lá, từng bông hoa, từng con chim và từng giọt sương nhỏ. Nếu bạn có thể ngừng lại và nhìn sâu thì bạn có thể nhận diện được người thương ở những biểu hiện khác nhau, dưới nhiều hình thái. Bạn sẽ thoát khỏi sợ hãi, đau khổ và lại yêu đời.

Thực Tại Tự Do

Khi chúng ta không có mặt hoàn toàn ở thực tại, chúng ta không sống một cuộc đời thật sự. Chúng ta cũng không có mặt cho người thân và cho mình. Nếu chúng ta không ở đó thì đang ở đâu? Chúng ta cứ chạy, chạy và chạy, thậm chí cả trong giấc ngủ. Chúng ta chạy vì chúng ta cố gắng trốn khỏi sợ hãi.

Chúng ta không thể thưởng thức cuộc sống nên chúng ta dùng nhiều thì giờ và công sức để lo âu về những gì đã xảy ra hôm qua hoặc sẽ xảy ra ngày mai. Nếu chúng ta sợ hãi hoài thì chúng ta không thể biết giá trị của sự sống và hạnh phúc của hiện tại. Trong đời sống hằng ngày, ta có xu hướng tin rằng hạnh phúc chỉ có khả năng xảy đến trong tương lai. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm điều kiện tốt hơn để làm cho ta hạnh phúc. Ta bỏ qua những gì đang xảy ra trước mắt. Chúng ta cố gắng đi tìm những gì làm cho ta cảm thấy vững vàng hơn, an toàn hơn. Nhưng chúng ta cũng thường xuyên lo sợ về những gì tương lai sẽ đem tới. Chúng ta lo mất việc làm, của cải và những người thương. Vì thế chúng ta cứ chờ đợi và hy vọng cái giây phút kỳ diệu kia, vào một thời điểm nào đó sau này, khi mà mọi thứ sẽ diễn ra đúng như ý ta mong muốn. Nhưng đời sống chỉ có trong giây phút hiện tại. Bụt dạy: “Chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại, đó là những giây phút duy nhất mà ta có”.

Kho Báu Chôn Cất

Trong Kinh thánh có một câu chuyện về một người nông dân phát hiện một kho báu được chôn cất trên mảnh đất của mình. Khi trở về nhà, ông ta bỏ hết tất cả phần đất còn lại và tất cả thứ khác ông có, ông chỉ giữ lại mảnh đất nhỏ chứa kho báu. Kho báu đó là vương quốc của Thượng Đế. Chúng ta biết rằng chúng ta nên tìm kiếm vương quốc của Thượng Đế trong giây phút hiện tại, bởi vì giây phút hiện tại mới là giây phút thật sự. Quá khứ đã không còn và tương lai thì chưa tới. Vì vậy vùng đất mà bạn tìm kiếm là vương quốc của Thượng Đế hay Tịnh độ trong đạo Bụt, vùng đất mà bạn tìm thấy hạnh phúc, an lạc và vững vàng, phải là giây phút hiện tại. Điều này rất đơn giản và rõ ràng. Nhưng vì chúng ta có xu hướng bị lôi về quá khứ hay kéo tới tương lai, chúng ta phải nhận ra thói quen đó và học cách làm thế nào thoát khỏi nó để có mặt thật sự trong giây phút hiện tại.

Khi Bụt nói chuyện với một đám đông lớn là những người thương gia, thông điệp chính của Bụt là “có thể sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại”. Bụt thấy rằng hầu hết những người thương gia đều rất quan tâm về sự thành công trong tương lai của họ và họ không có khả năng thưởng thức giây phút hiện tại. Họ không có thời gian cho bản thân và cho gia đình, thậm chí không có thời gian để yêu thương và làm cho người thân họ hạnh phúc. Họ liên tục bị cuốn vào tương lai.

Cõi Tịnh độ là giây phút hiện tại. Tịnh Độ là bây giờ hoặc không bao giờ. Vương quốc của Thượng Đế cũng vậy. Vương quốc của Thượng Đế không chỉ là một ý tưởng dễ thương. Đó là thực tại. Khi chúng ta thở và đi trong chánh niệm, chúng ta trở về ngôi nhà hiện tại, tiếp xúc với những điều kỳ diệu của cuộc sống xung quanh. Nếu ta đã tìm thấy vương quốc của Thượng Đế, ta không còn chạy theo danh tiếng, sự giàu có và lạc thú.

Khi chúng ta trở về ngôi nhà hiện tại, ta sẽ nhận diện được rằng nhiều điều kiện của hạnh phúc đã có mặt. Ta đã có đủ điều kiện để hạnh phúc. Hạnh phúc hoàn toàn có mặt bây giờ và ở đây.

Lời dạy của Bụt về việc sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại là một niềm vui. Chúng ta có thể hạnh phúc ngay bây giờ. Việc thực tập cũng là một niềm vui. Khi chúng ta cùng leo lên đồi, chúng ta không cần cố gắng mà thưởng thức từng bước chân đi. Đi như vậy, nếu thoát ra khỏi quá khứ và tương lai, ta có thể bước vào vương quốc của Thượng Đế hay cõi Tịnh độ của Bụt trong từng bước chân.

Bây Giờ và Ở Đây

Đã về, đã tới
Bây giờ, ở đây
Vững chãi, thảnh thơi
Quay về nương tựa.

Khi bạn trở về với lúc này và ở đây, bạn sẽ nhận diện được rằng nhiều điều kiện của hạnh phúc đã có mặt. Thực tập chánh niệm là thực tập trở về với hiện tại, lúc này và ở đây, để có thể tiếp xúc sâu sắc với chúng ta, với cuộc sống. Chúng ta phải tập để có thể làm được chuyện này. Dù cho ta thông minh và hiểu biết ngay, chúng ta cũng cần được huấn luyện mới sống được như thế. Chúng ta phải luyện tập để thấy được rằng các điều kiện của hạnh phúc đã có mặt tại đây rồi.

Chúng ta có thể đọc bài kệ đó trong khi thở vào và thở ra. Chúng ta có thể đọc bài kệ đó khi lái xe tới chỗ làm. Bạn chưa tới sở nhưng trên đường đi, bạn đã tới căn nhà của bạn, chính là giờ phút hiện tại. Và khi tới sở, đó cũng là nhà, vì khi vô đó, bạn cũng đang sống với bây giờ và ở đây. Hãy cứ thực tập câu đầu tiên: “Tôi đã tới, tôi đã về nhà” là bạn đã có thể rất hạnh phúc rồi. Khi ngồi, khi đi hay khi tưới vườn rau, hay cho con ăn, lúc nào bạn cũng thực tập được “đã về, đã tới.” Tôi không còn chạy nữa. Tôi đã chạy suốt đời rồi và nay tôi quyết định dừng lại để thực sự sống cuộc đời mình.

Khi ta thực tập thở vào, chúng ta đọc “đã về,” đó là một thành công. Bây giờ chúng ta hoàn toàn có mặt, chúng ta sống 100%. Giờ phút bây giờ trở thành ngôi nhà thật sự của chúng ta.

Khi thở ra chúng ta nói “đã tới nhà”. Nếu chúng ta không cảm thấy về tới, chúng ta sẽ tiếp tục chạy. Và chúng ta tiếp tục sợ hãi. Nhưng nếu bạn cảm thấy đã tới nhà, thì bạn sẽ cảm thấy không cần phải chạy nữa.

Chúng ta lặp lại bài kệ này “Tôi đã tới, tôi đã về nhà” cho đến có cảm giác thật sự. Chúng ta lặp lại thở vào và thở ra, và tiếp bước cho đến khi ta thiết lập sự vững chãi trong giây phút hiện tại và ở đây. Những từ này không phải là trở ngại mà giúp ta chú tâm và giữ vững đời sống tỉnh thức.

Hai Phương Diện của Thực Tại

Nếu chúng ta về đến nhà thành công và an trú trong hiện tại, ta đã có được tự do và vững vàng và đó là nền tảng của hạnh phúc. Lúc đó ta mới có khả năng thấy được hai phương diện của thực tại, bản môn và tích môn.

Để biểu diễn hai phương diện của thực tại, ta sử dụng hình ảnh của sóng và nuớc. Nhìn về phương diện sóng, bản môn, chúng ta thấy rằng sóng có bắt đầu và có kết thúc. Sóng có thể cao hoặc thấp. Con sóng có thể đẹp nhiều hay đẹp ít. Sóng có thể có hoặc không, lúc này thì có nhưng lúc sau biến mất. Khi ta chạm vào bản môn, tất cả các ý niệm sau xuất hiện: sinh và diệt, thấp và cao, có mặt và không có mặt, đến và đi, vv. Nhưng chúng ta biết rằng khi chúng ta tiếp xúc sâu vào sóng, ta tiếp xúc nước. Nước là phương diện khác của sóng. Nước đại diện cho tích môn.

Trong bản môn, chúng ta đề cập về các khái niệm có sinh, có diệt, có trước, có sau, có trong, có ngoài, có lớn, có nhỏ. Nhưng trong tích môn, tất cả các khái niệm này đều bị loại bỏ. Nếu sóng có khả năng tiếp xúc được với nước, sóng có thể sống cùng với nước thì sóng không còn sợ những khái niệm về bắt đầu, kết thúc, thấp, cao, sinh và diệt. Không sợ hãi mang đến sự vững vàng và niềm vui. Vì bản chất thật của sóng là không sinh không diệt, không có bắt đầu và không có kết thúc. Đó là bản chất của nước.

Tất cả chúng ta đều giống như sóng. Chúng ta có bản môn của chúng ta. Chúng ta thường nói về việc bắt đầu ở một thời điểm và kết thúc ở một thời điểm khác. Chúng ta tin rằng hiện tại chúng ta đang hiện hữu và trước khi ra đời chúng ta không có. Chúng ta bị chìm vào trong các khái niệm, đó là lý do chúng ta sợ hãi, ganh tị, ham muốn, và chúng ta có tất cả xung đột và đau khổ bên trong. Ngay bây giờ, nếu chúng ta có thể trở về vững chãi, tự do, chúng ta có thể tiếp túc với bản chất thật của chúng ta, là bản môn của chúng ta. Chạm vào bản môn, chúng ta vượt thắng khỏi những khái niệm khiến chúng ta đau khổ.

Khi nỗi sợ vơi đi, chúng ta có thể nhìn sâu vào nguồn gốc của nỗi sợ từ phương diện tích môn. Trong bản môn, chúng ta thấy sinh, diệt, tuổi già nhưng trong tích môn, sinh và diệt không phải là bản chất thật của sự vật. Bản chất thật sự của mọi vật thoát ra khỏi sinh và diệt. Bước đầu tiên là thực tập trong bản môn, bước thứ nhì là thực tập trong tích môn. Ở bước đầu, ta chấp nhận có sinh và diệt, nhưng trong bước thứ hai, vì ta đã tiếp xúc với tích môn, ta nhận biết rằng sinh và diệt đến từ những khái niệm của chúng ta chứ không phải từ bất kỳ thực tại nào. Bằng cách tiếp xúc với tích môn, chúng ta có khả năng tiếp xúc được với bản chất vô sinh bất diệt.

Thực tập trong bản môn rất quan trọng cho việc thực tập thành công trong tích môn. Thực tập trong tích môn nghĩa là chạm vào bản chất không sinh không diệt của chúng ta, giống như ngọn sóng chạm vào bản chất thật của nó là nước. Chúng ta có thể hỏi “Sóng từ đâu tới và sóng đi đâu?” Và chúng ta có thể tự trả lời “Sóng đến từ nước và trở về nước”. Thực tế, không có đến cũng không có đi. Sóng cũng là nước, nó chẳng đến từ đâu mà cũng chẳng đi đâu. Sóng cũng không bao giờ tách khỏi nước, vì thế ta nói sóng “đến từ” nước cũng không thật sự chính xác. Vì nó là nước, ta cũng không thể nói rằng nó “trở về” nước. Tại thời điểm sóng là ngọn sóng, nó đã là nước rồi. Sinh và diệt, đến và đi cũng chỉ là những ý niệm. Khi tiếp xúc được bản chất không sinh không diệt, ta không còn sợ hãi.

Bản Chất của Vô Sinh Bất Diệt

Đám mây không thể trở thành hư không. Mây biến thành nước, tuyết hay mưa đá. Đó là lý do nói rằng nhìn nhận sự hoại diệt là một nhìn nhận sai. Nếu bạn là một nhà khoa học và bạn nghĩ rằng sau khi thân thể này phân rã bạn chẳng còn lại gì hết – bạn trở thành không, bạn chuyển đổi từ có thành không, thì bạn không phải là một nhà khoa học giỏi, vì cách nghĩ đó phản khoa học.

Vì sinh và diệt là một cặp ý niệm, giống như đến và đi, tồn tại và hoại diệt, cái này và cái khác. Đám mây xuất hiện trên bầu trời là một biểu hiện mới. Trước khi ra đời, mây là hơi nước sinh ra từ đại dương và sức nóng của mặt trời. Bạn có thể gọi đó là kiếp trước của mây. Mây chỉ là một sự tiếp nối. Đám mây không tới từ hư không mà luôn đến đến từ thứ gì đó. Vì vậy không có sự sinh ra mà chỉ là sự tiếp nối. Đó cũng là bản chất thật của vạn vật: không sinh không diệt.

Nhà khoa học người Pháp ở thế kỷ 18, ông Antoine Lavoisiter đã từng tuyên bố “Không có gì được sinh ra, cũng không có gì mất đi”. Lavoisiter đã thấy được chân lý mà Bụt đã thấy. Chỉ khi nào ta chạm được vào bản chất chân thực đó, chúng ta mới chuyển đổi được nỗi sợ hãi rằng mình không hiện hữu, chuyển đổi được cái lo trở thành hư không.

Khi đầy đủ nhân duyên thì sự việc biểu hiện, và chúng ta nói nó hiện hữu. Khi thiếu một hoặc hai điều kiện, sự việc đó không biểu hiện như trước thì ta nói nó không hiện hữu. Nói rằng thứ này có hay không có đều sai. Trong thực tại, không có thứ gì hoàn toàn có hay hoàn toàn không hiện hữu.

Không Đến Không Đi

Đối với đa số, chúng ta đau khổ nhiều nhất vì ý niệm sinh – diệt, đến – đi. Chúng ta nghĩ rằng người thương của ta đã đến từ một nơi nào đó và và nay sẽ đi tới một nơi nào đó. Nhưng bản chất của thực tại là không đến không đi. Chúng ta không từ đâu tới mà cũng không đi tới đâu cả. Khi nhân duyên đầy đủ thì ta biểu hiện dưới một hình thức, khi nhân duyên không còn đầy đủ thì chúng ta không biểu hiện dưới hình thức đó nữa. Điều đó không có nghĩa là chúng ta không hiện hữu. Chúng ta sợ chết, bởi vì không hiểu rằng vạn vạt không thật sự mất đi.

Một số người có khuynh hướng cho rằng họ có thể loại bỏ thứ mà họ không muốn: họ có thể đốt cháy một ngôi làng hay giết người. Nhưng giết hại cũng không làm cho người đó biến thành hư không. Họ đã giết Mahatma Gandhi. Họ bắn Martin Luther King. Nhưng những người này vẫn còn trong chúng ta. Họ tiếp tục biểu hiện dưới nhiều hình thức khác. Tinh thần của họ ở khắp nơi. Vì thế, khi chúng ta nhìn sâu vào bản thân – vào thân thể, vào cảm xúc, sự hiểu biết của chúng ta, khi ta nhìn vào ngọn núi, dòng sông hay nhìn vào người khác, ta phải có khả năng thấy được và tiếp xúc với cái bản chất không sinh không diệt. Đó là một trong những phép thực tập quan trọng nhất trong đạo Bụt.

Vô Thường
Theo tuệ giác đạo Bụt, nhìn nhận về bất diệt (bất tử) là một nhìn nhận sai trái. Vạn vật đều vô thường, vạn vật đều thay đổi. Không có gì là mãi mãi. Bất diệt không phải là bản chất thật của bất kì thứ gì. Nhưng nói rằng nếu ta chết đi thì không còn gì cũng là một nhìn nhận sai. Bất diệt (immortality) và đoạn diệt (annihilation) là một cặp đối nghịch. Bất diệt là một nhìn nhận sai, vì cho tới giờ chúng ta chưa thấy bất kỳ điều gì như vậy. Tất cả mọi thứ ta thấy đều là vô thường, luôn luôn thay đổi. Nhưng đoạn diệt cũng là một nhìn nhận sai trái.

Giả sử ta nói về cái chết của đám mây. Bạn nhìn lên bầu trời và không thấy đám mây yêu thích của bạn nữa, và bạn than khóc “Trời ơi đám mây không còn ở đó nữa, làm sao tôi có thể sống đây?” Và bạn rơi nước mắt. Bạn đã nghĩ rằng đám mây đã chuyển đổi từ không thành có, từ không hiện hữu thành hiện hữu.
Nhưng sự thực là đám mây không chết đi. Chết có nghĩa là đang là cái gì đó, đột ngột không còn là gì hết. Chết có nghĩa là từ ai đó, bạn đột ngột không còn là ai nữa. Nhưng những gì ta thấy thì không phải vậy. Đó là lý do khi tổ chức sinh nhật, thay vì hát “mừng ngày sinh nhật”, ta có thể hát “mừng ngày tiếp nối”. Sự ra đời của bạn không phải là bắt đầu mà là một sự tiếp nối. Bạn đã biểu hiện rồi, dưới hình tướng khác.

Chúng ta hãy nhìn vào một tờ giấy. Trước khi tờ giấy biểu hiện dưới hình thức này, nó là thứ khác. Nó không đến từ hư không, vì nếu từ hư không thì không thể đột nhiên biến thành có. Nhìn sâu vào tờ giấy, bạn có thể thấy cây cối, đất đá, mặt trời, mưa và đám mây đã nuôi dưỡng rừng cây; bạn có thể thấy người tiều phu và xưởng sản xuất giấy. Bạn có thể thấy kiếp trước của tờ giấy. Hình thức của tờ giấy chỉ là một biểu hiện mới, không phải thật sự sinh ra. Vì vậy bản chất của tờ giấy là không sinh không diệt.

Cũng không thể nói là tờ giấy chết đi. Khi bạn đốt tờ giấy, nó chuyển thành khói, thành hơi nước, thành tro và sức nóng. Tờ giấy tiếp tục biểu hiện dưới hình thức khác. Vì vậy cho rằng sau khi phân rã, sự vật không còn lại gì là một cách nhìn sai, còn gọi là cách nhìn đoạn diệt.

Nếu chúng ta mất đi một người rất gần gũi với chúng ta và chúng ta đau khổ vì sự mất mát ấy, ta cần phải nhìn lại. Người thương đó vẫn tiếp tục bằng cách nào đó. Và chúng ta có thể giúp người thương bằng cách làm cho họ đẹp hơn. Người đó vẫn còn sống bên trong chúng ta và quanh chúng ta. Nhìn bằng cách này, ta vẫn có thể nhận ra người thương dưới những biểu hiện khác, giống như ta nhận ra đám mây trong tách trà. Khi bạn thưởng thức tách trà trong chánh niệm và chú tâm, bạn hiểu rằng đám mây đã có mặt ngay đây trong tách trà của bạn. Bạn không bao giờ mất đi người thương. Người ấy chỉ thay đổi hình tướng mà thôi.

Đó là cách nhìn nhận sáng suốt cần có để vượt qua nỗi đau. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta mất đi người thương nhưng người ấy không chết, cũng không biến mất. Người ấy vẫn tiếp tục ở những hình tướng mới. Chúng ta phải thực tập nhìn cho sâu sắc để nhận ra sự tiếp nối của người thương và hỗ trợ cho họ: “Anh yêu dấu ơi, em biết là anh đang ở đó, anh có rất thật với em. Em đang thở cho anh đây. Em đang đi dạo cùng anh và thưởng thức cuộc sống với anh đây. Em biết rằng anh đang ở rất gần với em và anh đang ở trong em”. Chúng ta chuyển nỗi đau và sợ hãi của chúng ta vào trong nhận thức, chúng ta sẽ cảm thấy tốt hơn.

Khi thoát khỏi những ý niệm về sinh và diệt, chúng ta không còn bị nó chi phối. Ý niệm hiện hữu và hay không hiện hữu có thể đem tới nỗi sợ rất lớn. Khi đám mây biến mất khỏi bầu trời, nó không chuyển từ hiện hữu thành không hiện hữu, mà nó vẫn luôn tiếp tục. Bản chất của đám mây là không sinh không diệt. Bản chất của người thương của bạn cũng như vậy, và bản chất của bạn cũng giống như vậy.

Trân Quý Nơi Này (Appreciating Where You Are)

Giả sử có hai phi hành gia lên mặt trăng. Khi tới nơi, họ bị tai nạn và con tàu không thể trở về trái đất. Họ chỉ còn đủ dưỡng khí trong hai ngày. Không hy vọng gì việc có người từ trái đất tới tiếp cứu. Họ chỉ còn hai ngày để sống.

Nếu bạn hỏi họ lúc đó “bạn mong ước điều gì nhất?” Họ có thể trả lời: “Trở về nhà và được đi trên hành tinh trái đất”. Thế là đủ, họ sẽ không cần gì khác. Họ không cần là chủ nhân một công ty lớn, một người có tiếng tăm hoặc làm tổng thống Hoa Kỳ. Họ sẽ không muốn gì khác hơn là được trở về mặt đất, bước trên đó và thưởng thức từng bước chân, nghe các âm thanh của thiên nhiên và cầm tay người thương, nhìn ngắm mặt trăng.

Chúng ta nên sống mỗi ngày như những người được cứu thoát từ mặt trăng về. Chúng ta hiện đang sống trên mặt đất, nên ta cần biết thưởng thức từng bước chân trên mặt địa cầu quý giá, đẹp đẽ này. Thiền sư Lâm Tế đã dạy: “Phép lạ không phải là đi trên mặt nước mà là đi trên mặt đất”. Tôi rất quý lời dạy đó.  Bước đi là hạnh phúc của tôi, dù đi tại những nơi đông người như phi trường hay ga xe lửa. Đi như thế, mỗi bước chân hôn lên mặt đất mẹ, chúng ta có thể gây hứng khởi cho người khác làm theo. Chúng ta vui sống từng giây phút của cuộc đời.

Đi Tìm Mặt Đất Vững Chãi

Trong đời sống hằng ngày, nỗi sợ làm cho ta đánh mất chính mình. Thân xác ta ở đây, nhưng tâm thì ở nơi khác. Thỉnh thoảng chúng ta chìm ngập vào một quyển sách, và quyển sách đưa ta ra khỏi thân xác và thực tại ta đang ở. Sau đó, ngay khi rời khỏi quyển sách, ta trở lại cuốn vào lo lắng và sợ hãi. Nhưng hiếm khi ta quay về với niềm an lạc, sự hiểu biết và tính Bụt bên trong mỗi người, để chúng ta có thể chạm vào Đất Mẹ.

Nhiều người lãng quên thân xác mình. Họ sống trong thế giới ảo. Họ có quá nhiều kế hoạch và lo lắng, quá nhiều suy tính và mơ ước, họ không sống trong thân xác của họ. Trong khi chìm vào những nỗi sợ và cố tìm cách thoát khỏi nó, chúng ta không có khả năng nhìn thấy tất cả vẻ đẹp mà Đất Mẹ ban tặng. Chánh niệm nhắc nhở bạn trở về với hơi thở vào và có mặt hoàn toàn với hơi thở vào, có mặt hoàn toàn với hơi thở ra, mang tâm của bạn quay về với thân thể của bạn và an trú trong hiện tại. Hãy nhìn sâu vào giây phút hiện tại mầu nhiệm đang ở trước mặt. Đất Mẹ thật mạnh mẽ, bao la và luôn nâng đỡ. Thân thể bạn có rất nhiều mầu nhiệm. Khi bạn thực tập và đã vững vàng như mặt đất, bạn có thể đối mặt trực tiếp với khó khăn và nó sẽ bắt đầu tan đi.

Thực Tập Hơi Thở Chánh Niệm

Hãy dành thời gian thưởng thức bài tập đơn giản về hơi thở chánh niệm: “Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào. Thở ra, tôi biết là tôi đang thở ra”. Nếu bạn làm điều đó với một ít chú tâm thôi, bạn sẽ có khả năng thật sự có mặt. Giờ phút mà bạn bắt đầu tập thở chánh niệm, thân và tâm bạn bắt đầu quay về một chỗ. Chỉ cần 10, 20 giây để đạt được sự kỳ diệu này, thân tâm sẽ có mặt ở hiện tại. Tất cả chúng ta đều có thể làm được, ngay cả một đứa trẻ cũng có thể làm được.

Bụt dạy “Quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới, sự sống chỉ có mặt duy nhất trong giờ phút hiện tại”. Tập thiền với hơi thở chánh niệm sẽ đưa thân và tâm ta quay về giờ phút hiện tại, để ta không lỗi hẹn với cuộc sống.

Đọc tiếp chương 6

Thoát Khỏi Những Nỗi Sợ Về Tương Lai – Năm phép quán tưởng.

Ngoài việc sa đà chìm đắm trong những sự kiện quá khứ, ta thường hoang mang lo sợ những gì xảy ra ở tương lai. Sợ chết là một trong những nỗi sợ lớn nhất của con người. Khi ta nhìn thẳng vào hạt giống của sợ hãi thay vì khỏa lấp hay trốn chạy nó, ta có thể chuyển hóa nó. Một trong những phương pháp hữu hiệu nhất là thực tập 5 điều dưới đây. Hít thở một cách chậm rãi trong chánh niệm, thở vào và thở ra, nhẹ và sâu, cùng với việc thực tập những điều này, chúng sẽ giúp ta nhìn thật sâu vào bản chất và gốc rễ của sự sợ hãi.

Năm bài thực tập:
1. Thế nào tôi cũng phải già, tôi không thể nào tránh thoát cái già.
2. Tôi thế nào cũng phải bệnh, tôi không thể nào thoát khỏi bệnh.
3. Tôi thế nào cũng phải chết, tôi không thế nào tránh khỏi cái chết.
4. Những gì tôi trân quí hôm nay, và tất cả những người tôi thương, đến giờ phút đó tôi đều phải buông bỏ, tôi không đem theo được gì hết.
5. Cái mà tôi đem theo là tất cả hành động của tôi. Những gì tôi nghĩ, những gì tôi nói, những gì tôi làm sẽ không mất đi, tôi sẽ đem chúng theo và hoàn toàn chịu trách nhiệm về chúng nó.

Hãy nhìn sâu vào mỗi bài thực tập, thở vào và thở ra trong chánh niệm, chúng ta đào xới nỗi sợ của ta một cách mạnh mẽ.

Thế nào tôi cũng phải già, tôi không thể nào tránh thoát cái già

Đó là bài thực tập đầu tiên. “Thở vào, tôi biết thế nào tôi cũng phải già. Thở ra, tôi biết tôi không thể tránh thoát cái già”. Tất cả chúng ta đều sợ già. Chúng ta không muốn nghĩ về nó. Chúng ta muốn nỗi sợ đó cứ nằm im ở đó, ở cách xa chúng ta. Sự quán chiếu này xuất phát từ kinh Tăng Chi Bộ. “Chắc chắn là ta sẽ phải già”. Sự thật này là hiển nhiên và không thể tránh được. Nhưng hầu hết ta không muốn hiểu, vì thế ít nhiều gì ta cũng sống trong lãng phí. Nhưng trong sâu thẳm, ta vẫn biết đó là sư thật. Khi ta chôn lấp những ý nghĩ sợ hãi, chúng vẫn âm ỉ ở đó. Chúng ta hướng đến hưởng thụ (ăn, uống rượu, xem phim, vv.) để cố gắng quên và ngăn chặn những ý nghĩ sợ hãi dấy lên trong ý thức. Cuối cùng, chạy trốn nỗi sợ chỉ làm ta thêm khổ sở và khiến người thân đau khổ, và nỗi sợ của chúng ta càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Chúng ta phải có khả năng chấp nhận thực tế này, sự thật này. Thuộc lòng bài thực tập này là cơ hội để nhìn nhận sự thật rằng ta cần phải đối diện trực tiếp với nó. Ta có thể dành chút thời gian để sự thật đó thấm vào xương thịt. Chúng ta cũng không nên chỉ để nó nằm trong trí tuệ hiểu biết của ta (“Vâng, dĩ nhiên là bây giờ tôi còn trẻ, nhưng ngày nào đó tôi sẽ già”). Đó chỉ là một ý niệm trừu tượng không mang lại lợi lạc gì cả, đặc biệt khi ta thường quên ngay sau khi nói.

Bụt dạy rằng khi ta đem nó lên và đối diện với sự thật rằng ta không thể thoát khỏi cái già và cái chết, nỗi sợ và những thứ ám ảnh khác mà ta không muốn nghĩ tới sẽ kết thúc. Ta trốn chạy nỗi sợ một cách vô thức và thậm chí càng làm cho nó mạnh hơn.

Tôi thế nào cũng phải bệnh, tôi không thể nào thoát khỏi bệnh.

Bài thực tập thứ 2 chỉ ra rằng bệnh tật là một điều hiển nhiên. “Thở vào, tôi biết tôi thể nào cũng bệnh. Thở ra, tôi biết tôi không thể nào thoát khỏi bệnh”. Tất Đạt Đa – tên gọi của Bụt trước khi giác ngộ, là một trong những thanh niên khỏe nhất thành Ca-tỳ-la-vệ. Chàng thường xuyên dẫn đầu các cuộc thi thố tài năng, và mọi người, trong đó có người anh họ hay đố kị tên là Đề Bà Đạt Đa thường ước ao có được sự dũng cảm của chàng. Một cách tự nhiên, Tất Đạt Đa sinh lòng kiêu ngạo, và cho rằng có rất ít người được có sức mạnh như mình. Nhưng trong một lần ngồi thiền, chàng quán chiếu nhận ra lòng kiêu ngạo của mình và dẹp bỏ nó.

Khi ta khỏe mạnh, ta có thể nghĩ bệnh tật là chuyện của người khác. Ta xem thường và bảo rằng sao họ bệnh hoài vậy. Họ phải uống thuốc và xoa bóp thường xuyên. Ta nghĩ mình không giống như họ.

Nhưng một ngày nào đó ta cũng bị bệnh. Nếu ta không quán chiếu về sự thực này, thì nó đến bất ngờ một vào ngày ta không thể kiểm soát. Đôi chân ta giờ vẫn khỏe, ta có thể chạy, có thể đi thiền hành, chơi bóng. Ta vẫn có thể sử dụng đôi tay để làm nhiều việc. Nhưng hầu hết chúng ta không biết sử dụng tốt khả năng chăm sóc cho người khác cũng như cho bản thân. Chúng ta không sử dụng năng lượng cho sự thực tập chuyển hóa ưu phiền cho chúng ta và giúp xua tan đau khổ cho người khác và bản thân.

Một ngày, chúng ta sẽ nằm xuống giường bệnh, và thậm chí chúng ta không muốn gì hơn là có thể đứng dậy và bước đi một bước, nhưng không thể. Đó là lý do ta phải nhìn thẳng vào giây phút hiện tại rằng, cơ thể này chắn chắn sẽ bị bệnh một ngày nào đó. Thấy được sự thật này, ta sẽ bỏ được sự kiêu ngạo về sức khỏe bản thân một cách tự nhiên. Ta sẽ có cách cư xử đúng đắn, sẽ sử dụng tốt thời gian và năng lượng để làm những việc lợi lạc và không cuốn vào những mưu cầu vô nghĩa mà nó có thể phá hủy thân và tâm. Những gì ta cần làm bây giờ sẽ trở nên rõ ràng.

Tôi thế nào cũng phải chết, tôi không thế nào tránh khỏi cái chết.

Đây là điều thực tập thứ 3 “Thở vào, tôi biết thể nào tôi cũng phải chết. Thở ra, tôi biết tôi biết không thể nào tránh khỏi cái chết”. Đó là một sự thật đơn giản mà bạn miễn cưỡng đối diện. Bạn muốn sự thật này biến mất, vì bạn sợ. Rất đau đớn nếu nhìn sâu vào nó. Chết là một sự thật mà ta phải đối mặt. Tiềm thức ta luôn cố gắng quên đi, vì khi ta chạm vào nỗi sợ đó mà chưa được chuẩn bị sẵn năng lượng chánh niệm thì ta sẽ đau khổ. Cơ chế tự vệ sẽ bắt ta quên đi, chúng ta không muốn nghe về nó nữa. Nhưng đằng sau ý thức của ta, nỗi sợ về cái chết vẫn luôn ở đó, xô đẩy trong ta.

Khi chúng ta thật sự đối mặt với sự thật rằng một ngày nào đó ta sẽ chết (và có thể sớm hơn ta nghĩ), bản thân ta sẽ không làm những điều vô nghĩa, không có ảo giác rằng ta sẽ sống mãi. Quán chiếu về cái chết giúp ta tập trung năng lượng vào thực tập chuyển hóa và hàn gắn chúng ta và thế giới này.

Những gì tôi trân quí hôm nay, và tất cả những người thương, đến giờ phút đó tôi đều phải buông bỏ, tôi không đem theo được gì hết

Đây là điều thực tập thứ 4 “Thở vào, tôi biết có ngày tôi sẽ phải bỏ lại mọi thứ và tất cả người thương. Thở vào, tôi biết rằng tôi không đem theo được gì hết”. Chúng ta sẽ phải bỏ lại mọi thứ yêu quý hôm nay, như ngôi nhà, tài khoản ngân hàng, con cái hay người bạn đời xinh đẹp. Tất cả những gì ta trân quý hôm nay, ta phải buông bỏ hết. Ta không thể mang theo bất cứ thứ gì khi chết. Đây là sự thật. Những gì chúng ta trân quý, những gì ta sở hữu hôm nay đều không còn trong tương lai, ta không chỉ rời bỏ những thứ ta yêu quý nhất mà còn rời bỏ người thương.

Chúng ta không thể mang theo bất cứ thứ gì hay bất cứ ai khi chết. Tuy thế, mỗi ngày ta phấn đấu để tích lũy thật nhiều tiền bạc, kiến thức, danh vọng và nhiều thứ khác. Thậm chí đến khi 60 hay 70 tuổi, ta vẫn theo đuổi tiền tài, danh vọng và quyền lực. Chúng ta đều biết rằng có ngày ta phải buông bỏ tất cả kỷ niệm và những vật sở hữu. Đó là lý do người đi tu thực tập không lưu giữ đồ đạc. Bụt bảo rằng người tu sĩ chỉ nên có 3 bộ y áo, một chiếc bát khất thực, một cốc lọc nước, một miếng vải lót ngồi, và thậm chí họ cũng nên sẵn sàng bỏ đi những thứ ít ỏi này. Bụt cũng thường dạy rằng cũng không nên gắn bó với gốc cây mà ta thích ngồi và ngủ ở dưới, mà nên ngồi và ngủ dưới bất kỳ cái gốc cây nào. Hạnh phúc của chúng ta không nên lệ thuộc vào bất kỳ thứ gì. Chúng ta phải sẵn sàng buông bỏ.

Nếu ta thực tập và có khả năng buông bỏ, ta có thể tự do và hạnh phúc ngay tức thì. Nếu không thể buông bỏ, chúng ta sẽ không chỉ đau khổ vào giây phút cuối buộc phải buông bỏ, mà vào ngay bây giờ và trong mỗi ngày sắp tới, vì nỗi sợ sẽ luôn đeo bám ta. Có người tới già vẫn tham lam và bủn xỉn, vẫn tiếp tục tích trữ mọi thứ. Điều này thật đáng xấu hổ. Họ đã không đủ sáng suốt để thấy rằng một ngày gần đó, cũng có thể chỉ trong vài tháng tới, họ phải bỏ lại tất cả. Sự tham lam đã trở thành thói quen trong suốt cuộc đời họ, nên họ cảm thấy hạnh phúc khi tích lũy của cải. Thậm chí chỉ ba tháng trước khi họ qua đời, thói quen đó vẫn còn rất lớn và ngăn cản họ buông bỏ.

Có một truyện cổ tích Việt Nam về một người giàu có tên là Thạch Sùng. Thạch Sùng rất tự hào vì nhà anh ta có tất cả mọi thứ có thể tìm thấy trong cung điện của vua. Anh ta lấy làm sung sướng vì có nhiều vàng bạc của cải hơn cả vua, thậm chí nhiều hơn. Một ngày, vua hỏi Thạch Sùng rằng liệu anh ta có thật sự giàu có hay không. Thạch Sùng rất chắn chắn và thách đố rằng nếu tìm thấy bất cứ thứ gì vua có mà anh không có thì anh sẽ đưa hết gia sản của mình cho vua. Đó là tính kiêu căng về sự giàu có. Dưới sự làm chứng của tể tướng, cuộc thi bắt đầu. Sự thực, những gì nhà vua có, Thạch Sùng đều có. Nhưng đến cuối ngày, nhà vua có một thứ mà Thạch Sùng không có: một cái chén mẻ. Cái chén mẻ không dùng để đựng súp mà để làm cá hoặc đậu hủ. Vì vậy tể tướng thông báo Thạnh Sùng đã thua. Thạnh Sùng phải thực hiện lời hứa và đưa hết tài sản cho nhà vua. Anh ta tiếc của đến nỗi biến thành một con thạch sùng, luôn chậc lưỡi tiếc nuối “chậc, chậc, chậc”.

Chúng ta không muốn trở thành Thạch Sùng, theo đuổi hạnh phúc bằng cách tích lũy tài sản. Bụt bảo người đi tu nhìn lên bầu trời đêm để thấy mặt trăng, và Bụt hỏi họ có thấy được niềm hạnh phúc vô bờ của mặt trăng đang di chuyển thong dong trong vũ trụ rộng lớn. Là những người tu tập, ta nên cho phép bản thân tự do như mặt trăng. Nếu ta bị dính vào việc phải giành được thật nhiều của cải, danh tiếng, quyền lực và tình ái, ta mất đi tự do.

Những gì tôi nói, những gì tôi làm sẽ không mất đi, tôi sẽ đem chúng theo và hoàn toàn chịu trách nhiệm về chúng.

Bài thực tập thứ 5 nhắc nhở rằng khi chúng ta chết, những thứ duy nhất tiếp nối ta là những suy nghĩ, lời nói, hành động của chúng ta – gọi là nghiệp. “Thở vào, tôi biết rằng tôi không thể mang theo thứ gì ngoài suy nghĩ, lời nói và hành động của mình. Thở ra, tôi biết tôi sẽ đem chúng theo”. Tất cả những ý nghĩ mà bạn nghĩ, tất cả những lời mà bạn nói, tất cả những hành động mà bạn làm cho thân thể bạn – đó là nghiệp của bạn và chúng sẽ đi theo bạn. Tất cả thứ khác bạn phải để lại phía sau.

Ở đây chúng ta đang nói đến sự thừa hưởng không chỉ từ tổ tiên mà là kết quả của những hành động của chúng ta. Những gì chúng ta nghĩ, chúng ta nói, chúng ta làm gọi là nghiệp (karma) – karma trong tiếng Sanskrit là hành động. Những gì ta làm, ta nói, ta nghĩ vẫn tiếp tục sau khi hành động hoàn thành, và kết quả của nó vẫn tiếp tục theo sau. Bất kể chúng ta có muốn cái kết quả đó hay không, nó vẫn ở với ta. Tất cả thứ gì ta trân quý và tất cả người thương đều phải ở lại, nhưng nghiệp của chúng ta – kết quả của hành động, là luôn đi theo. Chúng ta không thể nào trốn khỏi nó, cũng không thể nói “Không, mày không có quyền đi theo ta”. Nghiệp báo là cái nền mà ta đang đứng. Chúng ta chỉ có một cái nền, và đó là nghiệp báo của chúng ta. Chúng ta không còn cái nền nào khác. Chúng ta sẽ nhận được kết quả của bất kỳ hành động nào ta đã làm, bất kể là lành hay không.

Đem Chánh Niệm Vào Hạt Giống Của Nỗi Sợ

Thực hành 5 bài ghi nhớ giúp chúng ta chấp nhận những nỗi sợ hãi lớn nhất của bản thân – như sợ già, sợ bệnh, sợ chết là điều thực tế, là sự thật không thể tránh khỏi. Khi ta thực tập chấp nhận các sự thật này, ta có thể nhận được lợi lạc và có khả năng sống một cuộc sống tỉnh thức, khỏe mạnh và từ bi, không còn gây ra đau khổ cho mình và cho người khác.

Hãy mời nỗi sợ của bạn vào trong ý thức và mỉm cười với nó. Mỗi khi bạn mỉm cười với nỗi sợ hãi, bạn đã làm nó yếu đi. Nếu bạn cố chạy trốn nỗi đau, nó cũng không có cách nào thoát ra. Chỉ có cách nhìn thật sâu vào bản chất của nỗi sợ, bạn mới thoát ra khỏi nó.

Quán chiếu sâu sắc 5 bài thực tập này, chúng ta đem chánh niệm vào hạt giống của sự sợ hãi. Hạt giống của sự sợ hãi đang ở đó trong chúng ta, nếu chúng ta không thực tập ôm ấp nó trong chánh niệm, thì mỗi lần sự thật này hiện lên, chúng ta cảm thấy khó chịu. Giống như đà điểu gặp một con sư tử, chúng ta chui đầu vào cát. Sử dụng các phương tiện giải trí nhưng tivi, game, rượu, thuốc, chúng ta cố gắng phớt lờ sự thật của tuổi già, bệnh tật, cái chết và tính vô thường của những thứ mà ta trân quý.

Nếu chúng ta cho phép bản thân chìm đắm trong những nỗi sợ, ta sẽ chịu đựng và hạt giống sợ hãi trong ta cứ lớn dần lên. Nhưng khi tỉnh táo, ta dùng năng lượng chánh niệm để ôm ấp nỗi sợ. Mỗi lần nỗi sợ được vỗ về bằng chánh niệm, năng lượng của sự sợ hãi sẽ giảm xuống trước khi trở lại sâu vào ý thức của ta dưới một hạt giống.

Ý thức của ta giống như một vòng tròn, phần bên dưới là tiềm thức và phần bên trên là tâm thức. Tất cả nỗi sợ hãi về tuổi già, bệnh tật, cái chết, sợ phải buông bỏ, và sợ nghiệp báo đều được lưu trong tiềm thức. Chúng ta không muốn đối mặt với nỗi sợ, vì thế chúng ta cố gắng giấu diếm chúng, giữ nó nằm im ở dưới. Chúng ta không thích ai đó hoặc điều gì đó nhắc đến. Chúng ta không muốn gọi nó lên trong ý thức.

Chánh niệm là đối nghịch của chiều hướng này. Chúng ta phải mời chúng vào trong ý thức mỗi ngày và nói với chúng rằng “Nỗi sợ của tôi ơi, tôi không còn sợ nữa. Tôi biết rằng thể nào tôi cũng già và tôi không thể tránh được tuổi già”. Khi nỗi sợ hiện lên, chúng ta cũng phải có hạt giống chánh niệm hiện lên để ôm ấp nó. Vì thế cùng lúc chúng ta có 2 nguồn năng lượng: năng lượng của sự sợ hãi và năng lượng chánh niệm. Nỗi sợ được tưới tẩm bằng chánh niệm và trở nên yếu hơn trước khi nó trở lại sâu trong ý thức ta dưới dạng hạt giống.

Ngay khi nỗi sợ biến mất không có nghĩa là chúng ta đã thoát khỏi nó hoàn toàn. Nếu chúng ta có giây phút an lạc, giây phút thiền tập, ta có thể gọi nó lên “Nỗi sợ yêu dấu của tôi ơi, hãy lên đây để tôi ôm ấp em một lát. Thể nào tôi cũng phải già và tôi không thể tránh được cái chết”. Chúng ta có thể vỗ về nỗi sợ hãi của ta trong 5, 10, 20, 30 phút tùy thích, và dùng năng lượng của chánh niệm để ôm ấp nỗi sợ hãi. Bằng cách ôm ấp như vậy mỗi ngày, nỗi sợ của chúng ta sẽ mất đi sức mạnh của nó.

Đọc tiếp chương 5 – Không đến không đi

(Không nên la mắng ầm ĩ trẻ con. Mình từng nghĩ, trẻ con nó mau quên lắm, mình bực mình la hét nó, nó còn nhỏ chắc không nhớ chi đâu. Nhưng thực tế thì không phải vậy.

Có lẽ ngày nhỏ, mình hiếm khi bị ba má đánh đập la mắng, nên đứa trẻ bên trong của mình không bị nhiều tổn thương, mà mình có một đứa trẻ hạnh phúc bên trong. Cám ơn ba má ông bà cô chú dì cậu đã yêu thương. Nhưng mình vẫn có nỗi sợ từ lúc ra đời và và tiếp nối từ tổ tiên)

FEAR (Thích Nhất Hạnh)

Chương 3: HÒA GIẢI VỚI QUÁ KHỨ

Nỗi sợ của chúng ta không chỉ xuất phát từ lúc ta sinh ra và lúc ấu thơ, mà đến từ nỗi sợ bản năng của bản thân và của ông bà tổ tiên. Tổ tiên ta đã chịu đựng cái đói và nhiều mối nguy hiểm khác, họ phải trải những giây phút thật sự lo lắng. Nỗi sợ đó truyền qua chúng ta, mỗi người đều có nỗi sợ hãi bên trong. Vì trải qua sợ hãi nên ta nghĩ đến tình huống xấu nhất. Chúng ta lo lắng về sự an toàn, về công việc và gia đình. Ta lo sợ những mối nguy hại bên ngoài. Thậm chí ngay khi không có gì xấu xảy ra, ta vẫn không ngừng sợ hãi.

Có lần, một bạn trẻ người Mỹ đến Làng Mai và thực tập chánh niệm với nhiều người khác. Suốt thời gian đó, tôi đề nghị mỗi người viết một lá thư cho cha mẹ họ, bất kể cha mẹ họ còn sống hay đã mất. Viết thư là một cách thiền tập. Anh bạn ấy chẳng viết gì cả. Bởi vì mỗi khi nghĩ về cha, anh ta rất đau khổ. Cha anh đã mất, nhưng anh đã không thể hòa giải với cha. Cha anh đã làm anh khiếp sợ khi anh còn nhỏ, thậm chí ngay bây giờ anh vẫn còn sợ cha nhiều đến nỗi không dám trò chuyện với cha dù chỉ qua một lá thư. Anh cũng không thể chịu nổi việc nghĩ tới cha mình. Tôi đưa anh ta một bài thực tập trong một tuần “Thở vào, tôi thấy tôi là một đứa trẻ năm tuổi. Thở ra, tôi mỉm cười với đứa trẻ năm tuổi đó”.

Khi bạn là một em bé nhỏ, bạn rất bé bỏng, yếu đuối. Một cái nhìn nghiêm khắc của người cha có thể gây tổn thương nhỏ trong tim bạn. Nếu người cha bảo im miệng, bạn có thể tổn thương. Bạn rất non nớt. Thỉnh thoảng bạn muốn phân trần, bạn đang cố gắng tìm lời giải thích, thì cha bạn lại bực mình quát “câm miệng”. Điều đó giống như bạn bị một ca nước lạnh dội vào tim. Bạn bị tổn thương sâu sắc, và lần sau không dám hó hé gì nữa. Từ đó, việc giao tiếp với người cha trở nên khó khăn. “Thở vào, tôi thấy tôi là một đứa trẻ năm tuổi. Thở ra, tôi mỉm cười với đứa trẻ năm tuổi đó”.

Bạn có nghĩ rằng đứa trẻ đó không còn nữa? Em bé đó vẫn còn trong bạn, và có thể vẫn còn chịu nhiều tổn thương. Em bé đang gọi chúng ta chú ý tới nó. Nhưng bạn không có thời gian. Bạn quá bận rộn. Bạn nghĩ mình là một người trưởng thành, kỳ thực, bạn cũng là đứa trẻ bé bỏng và bị tổn thương đó. Vì thế, khi thở vào và thấy mình là đứa trẻ yếu đuối đó, trái tim bạn sẽ nảy sinh lòng từ bi. Và khi thở ra, bạn mỉm cười với đứa trẻ và bạn đã có nụ cười của sự hiểu biết và từ bi.

Đứa trẻ bên trong có thể đau khổ rất nhiều. Khi còn nhỏ, bạn bị ảnh hưởng bởi rất nhiều quyết định xung quanh của người lớn. Trẻ em rất nhạy cảm. Thậm chí trước khi được sinh ra, đứa trẻ có thể nghe và phân biệt được tiếng la hét hay giọng hát. Vì vậy, nếu bạn thật quan tâm đến trẻ con, bạn phải bảo bọc chúng bằng yêu thương, thậm chí từ khi chúng chưa được sinh ra. Tình thương nên bắt đầu từ rất sớm.

Một số thanh niên nói rằng chúng ghét cha mẹ chúng. Thỉnh thoảng chúng nói với tôi rất rõ ràng rằng “Con chẳng muốn dính dáng gì với cha mẹ của con cả”. Chúng giận dữ với cha mẹ chúng đến nỗi muốn đọan tuyệt các mối quan hệ. Thỉnh thoảng, cũng có lý do để tách con cái ra khỏi cha mẹ về mặt vật lý và cả cảm xúc, nhất là trong trường hợp bị cha mẹ ngược đãi. Hay thỉnh thoảng, chúng ta sợ rằng nếu cứ quanh quẩn bên cạnh cha mẹ, chúng ta cũng sẽ quá yếu đuối và dễ bị tổn thương.

Nhưng thậm chí khi ta từ chối gặp bố mẹ và trò chuyện với họ, ta cũng không thể tách rời hoàn toàn khỏi họ. Ta được sinh ra từ họ. Họ là cha của chúng ta. Họ là mẹ của chúng ta. Đó là sự thật dù chúng ta có ghét họ.

Ta là sự tiếp nối của cha và mẹ. Ta không thể tách rời phần ấy của bản thân. Có giận dỗi cha mẹ cũng không thể thay đổi được điều này. Chúng ta chỉ giận dữ với chính bản thân. Chúng ta cần phải hòa giải với người cha-mẹ-bên trong, nói chuyện với cha-mẹ-bên-trong, và tìm cách để cùng tồn tại hòa hợp. Nếu chúng ta có thể nhận biết được điều này, sự hòa giải sẽ đến dễ dàng.

Chúng ta có khả năng thay đổi lớn bên trong nội tại và cả khả năng gây ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài. Bởi vì chúng ta sợ hãi, nên thường nghĩ mình không biết làm gì. Nhưng ta chỉ cần thực tập đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm, để nuôi dưỡng năng lượng chánh niệm và hiểu biết. Khi sự hiểu biết đến, nó sẽ giúp ta thoát khỏi sợ hãi, giận dữ, ghét bỏ, vv. Tình thương chỉ được sinh ra trên nền tảng của hiểu biết.

Khi chúng ta nói rằng thân và tâm có sự liên kết, điều đó không chỉ có nói đến thân và tâm của bạn. Trong bạn có cả mạch máu của tổ tiên và cả tâm thức của ông bà tổ tiên. Bạn có thể tiếp xúc sự hiện diện của ông bà tổ tiên trong từng tế bào cơ thể. Làm như vậy, bạn biết rằng bạn là sự tiếp nối của họ. Họ đang thật sự ở bên bạn, cùng với ông bà nội ngoại và ông bà cố. Bạn từng ngỡ rằng tổ tiên bạn không còn nữa, nhưng các nhà khoa học cũng cho rằng tổ tiên vẫn hiện diện trong bạn, qua sự thừa hưởng di truyền trong từng tế bào cơ thể. Tương tự như vậy với con cháu của bạn. Bạn hiện diện trong từng tế bào của chúng. Và bạn cũng hiện diện trong tiềm thức của mỗi người mà bạn đã gặp.

Hãy nhìn cây mận. Trong mỗi trái mận trên cây có một cái hạt. Hạt đó chứa đựng cây mận và tất cả những thế hệ trước nó. Hạt mận chứa đựng hằng hà sa số cây mận. Trong hạt mận có sự hiểu biết thông minh là làm sao để trở thành một cây mận, làm sao để thành ra cành, lá, hoa và trái mận. Nó không thể tự mình làm như vậy được. Nó chỉ có thể làm được vậy khi nó đã tiếp nhận được kinh nghiệm và gia tài của bao thế hệ tổ tiên. Bạn cũng vậy. Bạn có trí tuệ và thông minh để trở thành một con người vì bạn đã thừa hưởng từ muôn đời trí tuệ không những của tổ tiên huyết thống mà còn của tổ tiên tâm linh nữa.

Tổ tiên tâm linh có trong bạn vì bản chất trời sinh của bạn và sự dưỡng dục bạn nhận được là hai thứ không thể tách rời. Dưỡng dục thay đổi bản chất di truyền. Tâm linh và sự tu học của bạn, là một phần của đời sống hàng ngày, cũng có mặt trong từng tế bào của bạn. Vậy nên các vị thầy tâm linh cũng có trong mỗi tế bào của bạn. Bạn không thể chối bỏ sự hiện hữu của họ.

Một số người trong chúng ta có cha mẹ tuyệt vời, những người khác có cha mẹ rất  đau khổ và họ làm cả gia đình khổ theo. Bạn có những vị tổ mà bạn ngưỡng mộ. Bạn cũng có những vị tiền nhân với nhiều tính tiêu cực mà bạn không hãnh diện gì, nhưng họ vẫn là tổ tiên của bạn. Bạn có thể có các thầy tâm linh không giúp gì bạn và gia đình bạn trong việc biết đạo và sống đạo. Bạn có thể không kính trọng họ, nhưng họ vẫn là tổ tiên của bạn.

Ta cần trở về và ôm ấp tổ tiên huyết thốngtổ tiên tâm linh của chúng ta. Ta không thể từ bỏ chúng. Chúng có thật và nằm sẵn bên trong mỗi người, trong thân thể và tâm thức. Chấp nhận vô điều kiện là bước đầu mở cánh cửa kỳ diệu của sự tha thứ.

(Thực tập: Chấp nhận tổ tiên – còn tiếp)

Đọc tiếp chương 4

(Bài đăng trên tạp chí Người Đẹp, tháng 7/2015)

Một ngày nắng đẹp ở Cairo, Ai Cập, cô bé du khách 18 tuổi có mái tóc nâu nhạt, đôi mắt xanh lơ hút hồn lần đầu rụt rè tò mò nhận lời tham gia một vai diễn quần chúng cho bộ phim địa phương. Đạo diễn Khairy Beshara hôm đó không thể ngờ được ông đang có trong khung hình một ngôi sao sẽ sớm toả sáng rực rỡ tại kinh đô điện ảnh Hollywoood, đó là Cate Blanchett.

Nỗi bất hạnh tuổi thơ

Tiếng sét ái tình với cô gái Úc bên bờ biển Melbourne khiến anh lính hải quân Mỹ Robert “Bob” Blanchett quyết định ở lại và lập nghiệp ở thành phố biển này. Kết quả của mối tình đẹp là ba đứa con thiên thần, cô con gái giữa là Catherine Eslise (Cate) Blanchett sinh ngày 14 tháng 5 năm 1969 tại Melbourne.

Từ bé, Cate đã sớm bộc lộ năng khiếu nghệ thuật. Cha cô mặc dù là kỹ sư điện toán nhưng luôn là người ủng hộ, động viên cô nhiều nhất cho niềm đam mê cháy bỏng.

Bất hạnh bất ngờ ập tới cô bé Cate và cả gia đình khi cha cô Bob Blanchett đột ngột qua đời sau cơn truỵ tim ở tuổi 40. Khi đó, Cate mới vừa tròn 10 tuổi. Trong một lần phỏng vấn, Cate có dịp tâm sự về biến cố tuổi thơ của mình: “Tôi đang ngồi chơi piano, thoáng thấy cha rời nhà đi làm bước ngang qua cửa sổ, tôi vẫy tay chào tạm biệt rồi tiếp tục với những phím đàn. Hôm đó cha đi mãi không bao giờ trở về. Tôi tiếc sáng hôm đó mình đã không ôm hay hôn tạm biệt cha. Từ dạo đó, tôi không bao giờ rời khỏi nhà nếu chưa thật sự tạm biệt mọi người trong gia đình. Tôi xem đó như là một nghi thức.”

Sớm mất cha, nhưng chị em Cate vẫn được mẹ và bà chăm sóc, giáo dục nề nếp, kỷ luật chỉnh chu. Cate quyết tâm theo đuổi niềm đam mê nghệ thuật, cũng là để làm theo ước vọng của cha mình, cô theo học và tốt nghiệp Học viện Kịch nghệ quốc gia của Úc (NIDA) năm 1992.

Sự nghiệp sớm thành công

Chỉ một năm sau khi tốt nghiệp Học viện, Cate được giới phê bình bình chọn là Nữ diễn viên kịch trẻ xuất sắc nhất và Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong cùng một năm. Trước cô, chưa một ai làm được điều đó! Mặc dù cô gặt hái không ít thành công khi khởi nghiệp với kịch nghệ, tuy nhiên vai diễn quần chúng tình cờ khi đi du lịch tại Cairo (Ai Cập) là niềm cảm hứng cho cô chọn đi theo sự nghiệp điện ảnh

Năm 1997 là năm bước ngoặt trong sự nghiệp điện ảnh của Cate khi cô lần đầu tham gia diễn xuất cho phim quốc tế với một vai phụ nữ y tá trong Paradise Road. Ngay trong năm 1997, Cate nhanh chóng có được vai chính trong bộ phim tình cảm lãng mạn Oscar and Lucinda. Vai diễn chính đầu tiên thành công gây được tiếng vang lớn và mang về cho cô giải thưởng điện ảnh đầu tiên trong sự nghiệp của Viện Điện ảnh Úc (AFI).

Chỉ một năm sau (1998), cả thế giới điện ảnh chứng kiến vai diễn khẳng định tên tuổi và tài năng của Cate, vai diễn Nữ hoàng Anh Elizabeth I trong bộ phim cùng tên. Vai diễn thật sự đã đưa tên tuổi cô vào hàng ngôi sao tại Hollywood và đã giúp cho cô giành chiến thắng tại lễ trao giải BAFTAs, Quả Cầu Vàng và lần đầu tiên được đề cử tại giải Oscar. Khi đó, Cate chỉ mới vừa 29 tuổi.

Sau đó, Cate liên tục tham gia trong các bộ phim bom tấn, nổi bật là loạt ba tập phim Lord of the Rings (2001-2003) của đạo diễn Peter Jackson.

Cate là mẫu diễn viên hội tụ hoàn hảo các yếu tố của một diễn viên toàn năng hạng A. Bên cạnh năng khiếu thiên bẩm, người ta còn tìm thấy ở cô sự cần mẫn, tập trung và chuyên nghiệp trong tất cả các vai diễn. Ngoài ra, khiêm tốn, cầu thị và tràn đầy quyết tâm chinh phục là yếu tố làm nên khác biệt của Cate. Hãy nghe cô phát biểu khi vuột mất tượng vàng Oscar trong lần đề cử đầu tiên: “Tôi nghĩ đôi khi cũng tốt thôi nếu không giành được chiến thắng, ai muốn mình đạt được đỉnh cao sự nghiệp khi chỉ mới 28 tuổi?”

Sự nghiệp thăng hoa

Để rồi, năm 2005, lần đầu tiên Cate đã chạm đến tượng vàng danh giá trong sự nghiệp của mình ở hạng mục Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất cho vai diễn Katharine Hepburn trong phim The Aviator (2004).

Kể từ đó nữ diễn viên người Úc luôn là gương mặt sáng giá trong làng điện ảnh thế giới. Các đạo diễn luôn nhớ tới Cate cho các vai diễn khó, cần sự đa dạng, có chiều sâu nhập vai. Và Cate luôn luôn làm hài lòng đạo diễn và khiến người hâm mộ phải sững sờ, đôi khi đến mức gây ám ảnh cho người xemchẳng hạn như khi cô giả nam thành hiện thân của huyền thoại âm nhạc Bob Dylan.

Đạo diễn lừng danh Woody Allen khi phỏng vấn với BBC đã nói rằng: “Cate Blanchett đã cho nổ cả “quả bom nguyên tử” trên trường quay của ông bằng năng lượng diễn xuất đáng kinh ngạc. Cô đã mang lại cho Blue Jasmine những cung bậc xúc cảm phức tạp và những cú hích đầy cảm hứng mà các phim gần đây của ông thiếu vắng. Cô ấy chính là linh hồn của bộ phim chứ không phải là câu chuyện mà tôi muốn kể”

Vai diễn Jasmine trong bộ phim Blue Jasmine đã mang về cho Cate tượng vàng Oscar thứ hai trong sự nghiệp, lần này là hạng mục Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Với Jasmine, cô xây dựng nên hình ảnh “”người đàn bà phù phiếm” tác động thẳng vào cảm xúc của khán giả xuyên suốt từng khung hình, từng ánh mắt biểu cảm. Hơn hết, nụ cười đẹp đẽ của Cate, kiểu đẹp đẽ cao quý nhất mà bạn có thể trông đợi từ một người phụ nữ đã giúp người ta hiểu rõ tại sao Woody Allen lại chọn cô cho vai Blue Jasmine, một người phụ nữ thanh lịch tuyệt vời, dù không còn một xu trong túi cũng vẫn cố duy trì được sự sang trọng của mình. Cate xứng đáng hơn bao giờ hết với tượng vàng cho đỉnh cao tài năng vẫn đang thăng hoa bất chấp độ tuổi ngoại tứ tuần.

“Mụ gì ghẻ” xinh đẹp

Gần đây nhất, người đẹp 46 tuổi cùng với diễn viên trẻ Lily James đã trở thành cặp “Lọ Lem” và “Dì ghẻ” thời trang nhất trên màn ảnh trong bộ phim “Cinderella” tạo nên sốt phòng vé hồi đầu năm.

Đã có không ít bộ phim về “Cô bé Lọ Lem” , nhưng vai diễn mụ dì ghẻ độc ác của Cate trong phiên bản 2015 này là hay nhất, thật sự hơn cả tuyệt vời! Thật thú vị, đôi khi những vai diễn phản diện, ác độc nhưng tạo nên sự tuyệt vời, hoàn hảo.

Với vai diễn “mụ dì ghẻ” Tremaine, Cate gần như độc chiếm màn ảnh bằng tài năng diễn xuất bằng hình thể khác biệt, bằng thời trang tuyệt đẹp. Ngay khung hình đầu tiên khi “Mụ dì ghẻ” xuất hiện, cả rạp phim đã không ngớt trầm trồ. Mỗi một ánh nhìn của Tremain vào Lọ Lem như nói lên ngàn lời cay nghiệt, mỗi hành động đều tràn đầy lòng đố kỵ. Có thể nói không quá lời, Mụ Tremaine của Cate đã phần nào “làm lu mờ” nàng Lọ Lem Lily James còn khá non trẻ.

Bộ phim mới nhất Cate tham gia là Carol, nội dung khá thời thượng về câu chuyện tình cảm đồng tính nữ sẽ là một thử thách mới cho cô. Carol là một trong những phim vừa được ra mắt khá thành công hồi tháng 5 tại LHP Cannes năm nay.

Cate Blanchett cùng với những đồng hương thành danh khác như: Nicole Kidman, Naomi Watts, Russell Crowe.. đã làm nên một “làn sóng Australia” ở Hollywood.

Một gia đình yên bình và ấm áp

Cate gặp và làm việc cùng với Andrew Upton vào giữa thập niên 90′. Hai người nhanh chóng yêu nhau và kết hôn năm 1997. Cuộc sống hôn nhân đáng mơ ước của cô diễn viên xinh đẹp và nhà biên kịch tài năng rất hòa hợp, êm đềm và khá kín tiếng. Hai người có với nhau 3 con trai, Ignatius Martin (sinh năm 2008), Dashiell John (sinh năm 2001) và Roman Robert (sinh năm 2004).

Cate tự nhận mình là người phụ nữ luôn biết cách cân bằng giữ công việc và chăm sóc gia đình. Cô chia sẻ với mối quan hệ của mình chồng thật cởi mở: “Tranh cãi là một chuyện rất tuyệt. Bạn không muốn làm việc trong một không gian sáng tạo mà ai cũng chỉ muốn xoa dịu cái tôi của người khác. Bạn muốn những quan điểm đối lập, những quan điểm xây dựng. Quan hệ của chúng tôi tràn ngập sự sáng tạo. Điều quan trọng là bạn phải tranh cãi dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau”.

Cate đời thường vẫn với khuôn mặt đẹp rạng ngời và mắt trong vắt như pha lê. Trái ngược với nhiều ngôi sao cùng tầm cỡ, Cate duy trì được một cuộc sống tương đối riêng tư tại quê nhà. Suy nghĩ của cô về sự nghiệp, về cuộc sống cũng nhẹ nhàng như nét đẹp của cô vậy: “Người ta cứ suy diễn là các diễn viên chỉ muốn tiền và danh tiếng. Với trường hợp của tôi thì không phải vậy, tôi không đi học diễn xuất chỉ để ngồi ở khách sạn sang, mặc đầm do nhà thiết kế may riêng, rồi uống trà chanh! Đó là một phần tuyệt vời của việc đóng phim, nhưng đó chắc chắn không phải là điều khiến tôi thức dậy mỗi sáng”.

Có thể hiểu được năng lượng thành công của Cate Blanchett phần nào bắt nguồn từ chỗ dựa của một đời sống êm đềm, gia đình ấm áp, đầy thông cảm và yêu thương.

Cate còn là đại sứ cho Quỹ Bảo Tồn của Úc (Australian Conservation Foundation’s) nhằm cổ súy bảo vệ môi sinh. Đồng thời Cate đỡ đầu cho các hoạt động từ thiện chăm lo cho trẻ em nghèo trên khắp thế giới.

Năm 2007, Cate Blanchett vinh dự được tạp chí Time đề cử là “100 người có sức ảnh hưởng trên Thế giới”.

Box:

“Tôi luôn nói với mọi người rằng thật là may mắn khi được đóng phim cùng với Cate Blancheet” – Đạo diễn David Fincher

“Cô ấy chính là linh hồn của bộ phim chứ không phải là câu chuyện mà tôi muốn kể” – Đạo diễn Woody Allen.

IMAG2774_1 IMAG2777_1 IMAG2778_1

Vừa đọc vừa dịch :)

NỖI SỢ BẢN NĂNG

Nhiều người thường nhận thấy suy nghĩ của bản thân luôn lẫn lộn nhiều cảm xúc sợ hãi và đau khổ. Tất cả chúng ta từng trải qua buồn phiền trong quá khứ, và ta thường nhớ lại những buồn phiền đã qua. Chúng ta gợi lại quá khứ, xem xét nó và xem lại cuốn phim quá khứ. Nhưng nếu mỗi lần gợi lại ký ức mà không có chánh niệm hay nhận thức, thì mỗi lần xem những hình ảnh ấy ta lại cảm thấy đau khổ.

Giả sử bạn là đứa trẻ bị lạm dụng từ nhỏ. Bạn đã chịu đựng rất nhiều. Bạn mỏng manh và dễ bị tổn thương. Lúc nào bạn cũng cảm thấy sợ hãi. Bạn không biết cách tự bảo vệ. Có lẽ trong suy nghĩ bạn vẫn tiếp tục bị lạm dụng, thậm chí cho đến bây giờ – khi bạn đã trưởng thành. Bạn không còn là đứa trẻ mỏng manh và bị tổn thương, không đựơc bảo vệ nữa, nhưng bạn vẫn tiếp tục chịu đựng đau khổ của một đứa trẻ, vì bạn thường xuyên hồi tưởng lại quá khứ mặc dù chúng gây đau đớn.

Có những thước phim và hình ảnh được lưu trong tiềm thức. Mỗi lần bạn nghĩ về quá khứ và xem lại thước phim hay hình ảnh đó, bạn phải chịu đựng. Chánh niệm nhắc nhở chúng ta rằng hiện thực là bây giờ và ở đây, giây phút hiện tại luôn có mặt với chúng ta, ta không phải sống với những sự việc xảy ra trong quá khứ.

Giả sử hai mươi năm trước, có một người tát vào mặt bạn. Hình ảnh đó được lưu vào tiềm thức. Tiềm thức của bạn lưu rất nhiều phim ảnh của quá khứ, và luôn được chiếu ở đó. Nếu bạn nhớ và xem chúng nhiều lần, bạn tiếp tục đau khổ. Mỗi lần bạn xem hình ảnh đó, bạn như bị tát lần nữa.

Nhưng đó chỉ là quá khứ. Bạn không còn ở quá khứ, bạn ở giây phút hiện tại. Nó ĐÃ xảy ra, đúng vậy – trong quá khứ. Nhưng quá khứ đã trôi đi. Thứ duy nhất còn lại bây giờ chỉ là hình ảnh và ký ức. Nếu tiếp tục trở lại quá khứ để xem những hình ảnh này, đó là thất niệm. Nếu chuyển hướng trở về thực tại, ta có thể nhìn quá khứ theo cách khác và chuyển hóa khổ đau.

Khi bạn còn là một em bé nhỏ, có lẽ đôi lần bạn bị lấy mất đồ chơi. Bạn đã học cách khóc và xoay chuyển tình thế, hoặc mỉm cười để vui lòng người lớn, hòng lấy lại đồ chơi. Từ nhỏ, bạn đã học được cách cười xã giao. Đó là một cách giải quyết vấn đề để sinh tồn. Bạn đã học mà thậm chí không biết rằng mình đang học. Cảm giác mình bơ vơ, dễ bị tổn thương, không có khả năng tự bảo vệ, luôn cảm thấy cần người ở bên luôn tồn tại. Cái nỗi sợ đầu tiên, bên cạnh mong ước đầu tiên, cũng luôn tồn tại. Một đứa trẻ sơ sinh với nỗi sợ và mong ước đó, luôn ở trong ta.

Một số chúng ta luôn âu sầu và tiếp tục chịu đựng đau khổ thậm chí khi mọi thứ trở nên tốt đẹp ở hiện tại. Vì chúng ta có xu hướng chìm vào quá khứ. Chúng ta cảm thấy thoải mái hơn khi tạo ra ngôi nhà của ta trong đó, thậm chí nó chứa nhiều đau khổ. Ngôi nhà đó nằm sâu trong tiềm thức, nơi phát ra những thước phim của quá khứ. Mỗi đêm bạn quay trở lại, xem những thước phim đó và chịu đựng. Và điều bạn lo lắng không ngớt trong tương lai không gì khác hơn là hình ảnh phản chiếu của nỗi sợ và mong ước từ quá khứ.

Đừng sợ Quá Khứ

Vì rất dễ dàng bị chìm vào quá khứ, nên sẽ hữu ích nếu có sự nhắc nhở bạn trở về thực tại. Tại Làng Mai, chúng tôi dùng một cái chuông. Khi nghe tiếng chuông, chúng tôi thực tập hơi thở vào và thở ra trong chánh niệm, và chúng tôi nói “Tôi đang lắng nghe tiếng chuông. Âm thanh huyền diệu này đưa tôi trở về ngôi nhà thật sự của tôi”. Ngôi nhà thật sự là bây giờ và ở đây. Quá khứ không phải là một ngôi nhà thật sự.

Bạn có thể nói với đứa-trẻ-bên-trong rằng, quá khứ không phải là ngôi nhà của chúng ta. Ngôi nhà của chúng ta là ở đây, là nơi chúng ta thật sự sống. Chúng ta có thể có tất cả sự nuôi dưỡng và hàn gắn mà ta cần trong giây phút hiện tại. Nỗi sợ hãi, lo lắng, khổ đau mà ta trải qua vẫn ở đó bởi vì đứa trẻ bên trong chưa được tự do. Đứa trẻ đó sợ bước vào với giây phút hiện tại, và vì thế, chánh niệm và hơi thở của bạn có thể giúp đứa trẻ bên trong nhận ra rằng nó đã an toàn và tự do.

Giả sử bạn đi xem phim. Từ ghế ngồi khán giả bạn thấy màn hình chiếu phim. Trong câu chuyện trên phim, nhân vật trên màn ảnh tương tác với nhau. Và ngồi dưới ghế khán giả, bạn khóc. Bạn trải qua những gì xảy ra trên màn ảnh như thể là thật, đó là lý do khiến bạn rơi nước mắt thật và có cảm xúc thật. Nỗi đau là có thật. Giọt nước mắt là có thật. Nhưng khi bạn đến chạm vào màn ảnh, bạn không thấy người thật nào. Không có gì ngoài ánh sáng nhấp nháy. Bạn không thể nói chuyện với người trên màn ảnh, cũng không thể mời họ uống trà. Bạn không thể dừng họ lại hoặc hỏi chuyện họ, nhưng bạn có thể tạo ra nỗi khổ thật, trong thân thể cũng như trong tâm trí. Ký ức của chúng ta có thể gây ra nỗi khổ có thật, về mặt cảm xúc và thể chất.

Khi ta nhận ra rằng ta có thói quen lặp lại sự kiện cũ và phản ứng lại thành sự kiện mới như thể nó là cái cũ, chúng ta có thể bắt đầu chú ý khi thói quen (tập khí) đến. Ta có thể nhẹ nhàng nhắc nhở bản thân rằng ta còn có lựa chọn khác. Ta có thể quán chiếu thời điểm thực tại như nó-đang-là, một thực tại tươi mát, và để lại quá khứ đằng sau đến khi chúng ta có thể xem xét nó một cách trắc ẩn.

Chúng ta có thể tạo ra thời gian và không gian, không phải trong lúc bận rộn mà trong một thời gian lặng, để nói với đứa trẻ đang đau khổ và tổn thương bên trong rằng em không phải chịu đựng nữa đâu. Chúng ta có thể nắm lấy tay em và mời em cùng bước vào giây phút hiện tại và chứng minh rằng tất cả điều kỳ diệu của cuộc sống đang có mặt bây giờ và ở đây: “Đến với tôi, em bé nhỏ. Chúng ta đã lớn. Chúng ta không còn phải sợ nữa. Chúng ta không còn tổn thương nữa. Chúng ta không còn mong manh nữa. Chúng ta không phải sợ gì nữa.”

Bạn phải dạy cho đứa trẻ bên trong. Bạn mời nó đến với bạn, sống với bạn trong giây phút hiện tại. Dĩ nhiên, chúng ta có thể suy nghĩ một cách chánh niệm và học hỏi từ quá khứ, nhưng phải thực hiện ở giây phút hiện tại. Một khi chúng ta an trú trong giây phút hiện tại, ta có thể nhìn nhận khéo léo về quá khứ và học cách để không bị kẹt hay bị chôn vùi trong đó.

Dự tính Tương lai mà Không sợ hãi

Chúng ta có thể chuẩn bị cho tương lai mà không ảnh hưởng đến những dự tính. Thông thường, chúng ta hoặc không có dự tính gì cả, hoặc chìm vào những dự tính ám ảnh vì chúng ta sợ tương lai và sự không chắn chắn của nó. Giây phút hiện tại là nơi mà ta sống. Khi bạn thật sự an trú trong hiện tại, bạn có thể họach định cho tương lai theo cách tốt hơn. Sống chánh niệm trong giây phút hiện tại không loại trừ việc bạn lập kế hoạch. Nghĩa là bạn biết rằng sẽ không đánh mất bản thân trong sự lo lắng và lo sợ tương lai. Nếu bạn thật sự có mặt và biết cách nắm bắt giây phút hiện tại tốt nhất có thể, thì bạn sẽ làm tốt nhất cho tương lai.

Cũng tương tự như quá khứ. Dạy và thực tập chánh niệm không ngăn cản việc nhìn sâu vào quá khứ. Nhưng nếu ta cho phép bản thân chìm vào sự hối tiếc và đau khổ liên quan đến quá khứ, điều đó là không đúng. Nếu chúng ta vững vàng trong giây phút hiện tại, chúng ta có thể đem quá khứ tới thực tại và nhìn cho sâu sắc. Ta có thể xem xét quá khứ và tương lai trong khi ta an trú trong giây phút hiện tại. Thực tế rằng bạn có thể học từ quá khứ và hoạch định cho tương lai theo cách tốt nhất nếu bạn an trú trong hiện tại.

Nếu bạn có một người thân đang chịu đau khổ, bạn phải giúp đỡ anh ấy. “Anh ơi, anh đang an toàn. Mọi thứ đã ổn. Tại sao anh lại phải tiếp tục chịu đựng? Đừng nghĩ về quá khứ. Nó chỉ là một con ma, nó không có thật”. Và bất cứ khi nào bạn nhận ra rằng chúng chỉ là những thước phim và hình ảnh, chúng không có thật, thì ta sẽ được tự do. Đó là cách thực tập chánh niệm.

Chương 3 – Hòa giải với quá khứ

THỜI GIAN TRƯỚC

Nhiều người trong chúng ta không nhớ rằng cách đây rất lâu, chúng ta đã sống trong dạ con của mẹ. Ta là cơ thể sống nhỏ xíu. Có đến hai quả tim bên trong cơ thể mẹ: trái tim của mẹ và trái tim của bạn. Suốt thời gian này mẹ làm tất cả mọi thứ cho bạn, mẹ thở giúp bạn, ăn giúp bạn, uống giúp bạn. Bạn liên kết với mẹ thông qua dây rốn, bạn an toàn và cuộn tròn trong cơ thể mẹ. Bạn không hề biết nóng hay lạnh. Bạn cũng rất thoải mái. Bạn nghỉ ngơi trong lớp nước đệm êm ái. Ở Trung Hoa và Việt Nam, chúng ta gọi dạ con là cung điện của con (tử cung). Bạn trải qua khoảng chín tháng trong cung điện này.

Chín tháng trải qua trong tử cung là khoảng thời gian vui sướng nhất trong cuộc đời. Rồi ngày bạn ra đời. Mọi thứ quá khác biệt xung quanh, bạn bị đẩy vào một môi trường mới. Đầu tiên, bạn cảm thấy lạnh và đói. Âm thanh quá lớn, ánh sáng chói chang. Lần đầu tiên, bạn cảm thấy sợ. Đó là nỗi sợ đầu tiên.

Bên trong cung điện của trẻ con, bạn không cần sử dụng phổi. Nhưng ngay khi bạn ra đời, dây rốn bị cắt và bạn không còn kết nối vật lý với mẹ được nữa. Mẹ bạn cũng không còn thở cho bạn được nữa. Bạn phải học cách thở hơi thở đầu tiên. Nếu bạn không thể tự thở, bạn sẽ chết. Giây phút được sinh ra đời là khoảnh khắc thật sự mong manh. Bạn bị đẩy ra khỏi cung điện và phải chịu đau. Bạn cố gắng nuốt nhưng rất khó khăn. Trong phổi có chất lỏng và để thở, bạn phải cố đẩy chất lỏng đó ra. Khi chúng ta được sinh ra, cùng với sự sinh ra đó, nỗi sợ của chúng ta cũng ra đời cùng với mong muốn được sống sót. Đó là mong muốn đầu tiên.

Khi còn là em bé sơ sinh, mỗi chúng ta đều biết rằng để sống sót, ta cần người chăm sóc. Thậm chí sau khi dây rốn bị cắt, chúng ta hoàn toàn dựa vào người lớn để sống sót. Khi chúng ta dựa vào người nào đó hay điều gì đó để sống, nghĩa là có một liên kết, một dạng dây rốn ẩn, vẫn đang ở đó.

Khi ta lớn lên, nỗi sợ hãi đầu tiên và mong muốn đầu tiên vẫn còn đó. Mặc dù ta không còn là đứa trẻ, ta vẫn sợ rằng ta không thể sống sót, sợ không có ai chăm sóc. Mỗi mong muốn mà ta có trong cuộc sống đều xuất phát từ nguồn gốc này, là mong ước căn bản để sống sót. Như những đứa trẻ, ta tìm nhiều cách để đảm bảo sinh tồn. Chúng ta có thể cảm thấy bất lực. Có chân nhưng không thể đi. Có tay nhưng không thể nắm. Chúng ta phải tìm ra cách có người che chở cho ta, đảm bảo ta sống sót.

Thỉnh thoảng mỗi người đều cảm thấy sợ hãi. Chúng ta sợ cô đơn, sợ bị bỏ rơi, sợ già, sợ chết, sợ bệnh và sợ rất nhiều thứ khác. Thỉnh thoảng ta cảm thấy sợ mà không biết lý do chính xác. Nếu chúng ta thực tập nhìn nhận một cách sâu sắc, ta thấy rằng nỗi sợ hãi là kết quả của nỗi sợ đầu tiên ngay khi vừa sinh ra, ta vô dụng và không có khả năng làm bất cứ điều gì cho bản thân. Thậm chí khi ta trưởng thành, thì nỗi sợ đầu tiên và mong muốn đầu tiên đó vẫn còn hiện diện. Mong ước có người bạn đời, cũng là một phần mong ước tiếp nối rằng có ai đó săn sóc cho chúng ta.

Khi trưởng thành, chúng ta thường sợ nhớ tới hoặc chạm tới nỗi sợ đầu tiên và mong muốn đầu tiên, bởi đứa trẻ bơ vơ trong ta vẫn còn đó. Chúng ta đã không có cơ hội nói chuyện vỗ về nó. Chúng ta cũng không có thời gian chăm sóc đứa bé bị thương đó – đứa trẻ bơ vơ bên trong.

Với hầu hết chúng ta, nỗi sợ đầu tiên vẫn tiếp tục biểu hiện dưới nhiều hình thức. Thỉnh thoảng ta cảm thấy sợ cô đơn. Ta có cảm giác rằng “tôi không thể chịu được một mình, phải có ai đó với tôi”. Đó là sự tiếp nối của nỗi sợ hãi ban đầu. Tuy nhiên, nếu suy xét thật rõ, chúng ta sẽ có khả năng bình tâm và tìm thấy hạnh phúc.

Phải nhìn thật sát các mối quan hệ để thấy chúng dựa chủ yếu vào nhu cầu lẫn nhau hay hạnh phúc lẫn nhau. Chúng ta có xu hướng nghĩ rằng người bạn đời của ta có khả năng khiến ta cảm thấy tốt và sẽ không ổn nếu không có người ấy ở đó. Chúng ta nghĩ “tôi cần người ấy để chăm sóc tôi, hoặc tôi sẽ không sống nổi”.

Nếu mối quan hệ của bạn dựa trên nỗi sợ hãi hơn là dựa trên sự thấu hiểu và hạnh phúc lẫn nhau, thì đó không là một nền tảng vững chắc. Bạn cảm thấy cần người đó để hạnh phúc. Nhưng tại thời điểm nào đó, bạn lại cảm thấy sự hiện hiện của người đó thật phiền phức và bạn muốn tránh xa. Như vậy, bạn biết chắc rằng cảm giác bình yên hay an toàn không thật sự đến từ người đó.

Tương tự, nếu bạn giành nhiều thời gian đi uống café, có thể không phải vì quán cáfe đó quá thú vị, mà có thể vì bạn sợ một mình, bạn có cảm giác muốn tụ tập bạn bè. Khi bạn bật tivi, có thể không phải vì chương trình tivi hấp dẫn bạn muốn xem, mà chỉ vì bạn sợ một mình.

Nếu bạn sợ những gì người khác có thể nghĩ về bạn, thì cũng xuất phát từ lý do đó. Bạn sợ người khác nghĩ xấu về mình, họ sẽ không chấp nhận bạn và bạn sẽ bị bỏ rơi, sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng nếu bạn muốn người khác luôn nghĩ tốt về bạn, điều này cũng là sự tiếp nối của sự sợ hãi đầu tiên. Nếu bạn thường xuyên đi mua sắm quần áo mới, nghĩa là bạn có cùng mong ước đó, bạn muốn được người khác chấp nhận. Bạn sợ bị ghét bỏ. Bạn sợ bị bỏ rơi và một mình, không ai săn sóc.

Ta phải nhìn cho sâu để nhận diện được nỗi sợ và mong ước căn nguyên đằng sau tất cả hành động của chúng ta. Mỗi nỗi sợ hãi và mong ước hôm nay đều tiếp nối từ nỗi sợ đầu tiên và mong ước đầu tiên.

Một hôm khi tôi đang đi dạo, tôi cảm thấy một thứ gì đó như một cái dây rốn kết nối tôi với ánh mặt trời phía trên. Tôi thấy rất rõ rằng nếu mặt trời không ở đó, tôi sẽ chết ngay lập tức. Tôi thấy một dây rốn kết nối tôi với dòng sông. Tôi biết rằng nếu không có dòng sông ở đó, tôi cũng sẽ chết, vì tôi không có nước để uống. Tôi thấy một cái dây rốn kết nối tôi với cánh rừng. Những cái cây trong rừng cho tôi ôxy để thở. Nếu không có rừng, tôi sẽ chết. Và tôi thấy một cái dây rốn kết nối tôi với người nông dân, người đã trồng rau, hạt và gạo cho tôi ăn.

Khi bạn thực tập thiền, bạn sẽ bắt đầu thấy những thứ mà người khác không thấy. Mặc dù bạn không thể thấy hết tất cả các dây rốn, nhưng chúng vẫn ở đó, kết nối bạn với mẹ, với cha, với người nông dân, với mặt trời, với dòng sông, với cánh rừng, v.v. Tập thiền có thể gồm sự tưởng tượng. Nếu bạn vẽ một bức tranh về bản thân với những cái dây rốn này, bạn sẽ khám phá ra không chỉ có năm hay mười cái dây rốn, mà có thể có hàng trăm, hàng ngàn cái, và bạn kết nối với tất cả.

Ở Làng Mai, nơi tôi sống ở miền Tây Nam nước Pháp, tôi ưa dùng “gathas”, là những bài thi kệ thực tập ngắn mà chúng tôi thuộc lòng trong im lặng hay đọc to trong ngày, để nhắc chúng tôi sống sâu sắc trong mỗi hành động thường ngày. Chúng tôi có bài thi kệ thức dậy mỗi sáng, bài thi kệ để chải răng, hoặc thậm chí bài thi kệ khi sử dụng xe hơi hoặc máy tính. Một bài thi kệ khi chúng tôi dùng thức ăn như thế này:

Tay nâng bát cơm đầy
Tôi thấy rõ vạn vật
Đang dang tay góp mặt
Để cùng nuôi dưỡng tôi.

Nhìn sâu vào dĩa rau, chúng ta thấy cả mặt trời bên trong, đám mây bên trong và trái đất bên trong. Ta thấy rất nhiều công sức và tình yêu lao động cũng có có mặt bên trong dĩa thức ăn trước mặt. Nhìn theo cách này, thậm chí khi không có ai cùng ngồi với chúng ta để chia sẻ thức ăn, ta cũng biết rằng cộng đồng của ta, tổ tiên của ta, Mẹ Thiên Nhiên và cả vũ trụ đều có mặt ngay đây, với chúng ta và ở bên trong ta từng khoảnh khắc. Chúng ta không bao giờ phải cảm thấy một mình.

Một những điều đầu tiên ta có thể làm để vỗ về nỗi sợ hãi trong lòng là nói chuyện với nó. Bạn có thể ngồi xuống cạnh đứa trẻ đầy lo lắng bên trong và nhẹ nhàng với nó. Bạn có thể nói như thế này “Em bé nhỏ yêu dấu, ta là người lớn của em đây, ta muốn nói với em rằng chúng ta không còn là em bé bơ vơ hay dễ bị tổn thương nữa. Ta đã có bàn tay mạnh và bước chân vững vàng, chúng ta có thể tự bảo vệ chúng ta tốt. Vì vậy không còn lý do để chúng ta phải tiếp tục sợ hãi nữa”.

Tôi tin rằng nói chuyện với đứa trẻ như vậy rất hữu ích, vì đứa trẻ bên trong có thể bị tổn thương sâu sắc, và nó chờ đợi ta quay lại với nó. Tất cả các vết thương thời thơ ấu vẫn còn đó, chúng ta quá bận đến nỗi không có thời gian trở lại và giúp đứa trẻ hàn gắn. Đó là lý do rất quan trọng để dành thời gian trở lại, nhận diện sự có mặt của em bé bị tổn thương trong chúng ta, nói chuyện với nó, giúp nó hàn gắn. Chúng ta có thể nhắc nhở nó nhiều lần rằng chúng ta không còn là đứa trẻ bơ vơ, mà đã trở thành người lớn và có thể tự chăm sóc bản thân rất tốt.

(Thực tập: Nói chuyện với đứa trẻ bên trong – còn tiếp)

Tiếp theo: Chương 2 – Nỗi sợ bản năng

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.